Điều 13. Quy định về việc liên lạc của phạm nhân
Phạm nhân được liên lạc điện thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh trong
nước với người thân thích theo khoản 2 Điều 51 Luật số 127/2025/QH15. Căn cứ
tình hình thực tế, Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân có thể xem xét, quyết
định cho phạm nhân thực hiện một trong các hình thức liên lạc sau:
1. Liên lạc bằng điện thoại
a) Cơ sở giam giữ phạm nhân phối hợp với cơ quan bưu chính viễn thông
địa phương lắp đặt máy điện thoại cố định có dây hoặc không dây và tổ chức cho
phạm nhân liên lạc điện thoại với người thân thích mỗi tháng 01 lần, mỗi lần
không quá 10 phút và không quá 03 số điện thoại. Cước phí được tính theo giá
của cơ quan bưu chính viễn thông, do phạm nhân chi trả từ tiền lưu ký theo hình
thức ký sổ hoặc các nguồn tương trợ khác nhưng phải được sự đồng ý của Thủ
trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân;
b) Khi liên lạc với người thân thích, phạm nhân phải liên lạc đúng số
điện thoại đã đăng ký; phải sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt khi liên lạc. Trường
hợp phạm nhân không biết tiếng Việt do Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân
quyết định.
2. Liên lạc có hình ảnh, âm thanh
a) Cơ sở giam giữ phạm nhân được trang bị hệ thống thông tin chuyên dùng
do Bộ Quốc phòng quản lý theo hình thức kết nối qua mạng Internet để tổ chức
cho phạm nhân liên lạc có hình ảnh, âm thanh khi đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật và Bộ Quốc phòng;
b) Phạm nhân phải đăng ký thông tin, số điện thoại liên lạc của người thân
thích. Việc liên lạc của phạm nhân do Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân quyết
định và được tổ chức, giám sát trong suốt quá trình liên lạc;
c) Khi kết nối để liên lạc, người thân thích phải khai báo đầy đủ thông tin
phục vụ việc xác định danh tính, mối quan hệ với phạm nhân và thời gian dự kiến
liên lạc. Việc liên lạc chỉ được thực hiện khi hình ảnh, âm thanh của người thân
thích được thu nhận trực tiếp trên thiết bị liên lạc và phù hợp, trùng khớp với
thông tin, hình ảnh định danh đã được xác lập;
d) Khi liên lạc với người thân thích, phạm nhân phải thực hiện đúng thông
tin đã đăng ký, bao gồm thông tin liên lạc của người thân thích và nội dung trao
đổi được ghi nhận trong quá trình quản lý việc liên lạc; sử dụng ngôn ngữ tiếng
Việt, trường hợp không biết tiếng Việt do Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân
quyết định. Việc liên lạc giữa phạm nhân và người thân thích được thực hiện
không quá 01 lần trong 01 tháng, thời lượng mỗi lần không quá 10 phút, chi phí
liên lạc do Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng quy định.
3. Cơ sở giam giữ phạm nhân bố trí địa điểm để phạm nhân gọi điện thoại,
liên lạc có hình ảnh, âm thanh. Cán bộ, nhân viên được cử giám sát chặt chẽ nội
dung liên lạc của phạm nhân với người thân thích, phải cập nhật đầy đủ thông
tin vào sổ theo dõi. Nếu phát hiện nội dung liên lạc vi phạm Nội quy cơ sở giam
giữ phạm nhân thì phải dừng ngay cuộc gọi, trường hợp cần thiết phải lập biên
bản để xử lý theo quy định.
4. Phạm nhân thường xuyên vi phạm Nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân
được bố trí giam giữ riêng hoặc đang bị kỷ luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm, Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân có thể hạn chế việc liên lạc bằng
điện thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh với người thân thích nhưng không quá
03 tháng. Cơ sở giam giữ phạm nhân thông báo cho phạm nhân, người thân thích
của phạm nhân biết việc hạn chế liên lạc cùng với việc hạn chế gặp.
5. Phạm nhân được khen thưởng bằng hình thức “Tăng số lần được liên lạc
với người thân thích” thì được liên lạc bằng điện thoại hoặc liên lạc hình ảnh, âm
thanh thêm 01 lần trong 01 tháng và không quá 10 phút.
6. Trường hợp bất khả kháng như xảy ra thiên tai, dịch bệnh không thể tổ
chức thăm gặp được hoặc phạm nhân có tình huống cấp bách, Thủ trưởng cơ sở
giam giữ phạm nhân xem xét, quyết định cho phạm nhân liên lạc với người thân
thích thêm 01 lần trong tháng, thời lượng không quá 10 phút.
Chương IV
QUẢN LÝ ĐỒ LƯU KÝ, NHẬN VÀ SỬ DỤNG TIỀN LƯU KÝ