Điều 11. Chế độ kiểm tra, báo cáo
1. Chế độ kiểm tra
a) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng định kỳ 06 tháng,
01 năm tổ chức kiểm tra công tác thi hành án hình sự, quản lý tạm giữ, tạm giam
và cấm đi khỏi nơi cư trú tại các Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan quản lý
tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, trại tạm giam, nhà tạm giữ, buồng
tạm giữ trong Quân đội nhân dân;
b) Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ban chỉ huy Bộ đội Biên
phòng, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển định kỳ hằng tháng, quý kiểm tra các cơ
sở giam giữ thuộc quyền;
c) Kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm trong công tác thi hành án
hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và quản lý người bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; khi có sự cố nghiêm trọng tại cơ sở giam
giữ và các vấn đề khác có liên quan cần nắm, giải quyết kịp thời.
2. Chế độ báo cáo
a) Báo cáo thường xuyên: Báo cáo tháng, quý, 06 tháng, 01 năm;
b) Báo cáo đột xuất: Theo yêu cầu của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự
Bộ Quốc phòng hoặc khi có việc đột xuất xảy ra;
c) Cơ quan thi hành án hình sự quân khu, Quân đoàn 34; các trại giam, trại
tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng báo cáo công tác thi hành án hình sự, công tác
quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam thuộc phạm vi quản lý về Cơ quan
quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng;
d) Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam báo cáo công tác quản lý
người bị tạm giữ về Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng;
đ) Các phòng nghiệp vụ thuộc Cơ quan Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng
được phân công giải quyết vụ án, vụ việc, Cơ quan Điều tra hình sự quân khu và
tương đương báo cáo việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú về
Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng;
e) Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm hướng dẫn về
mẫu biểu, nội dung báo cáo, thời gian báo cáo, thời điểm lấy số liệu báo cáo để
các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện.