法律人 LawPlayer logo

資料由法律人 LawPlayer整理提供·Pháp luật Việt Nam / LawPlayer, từ vbpl.vn (Bộ Tư pháp)

nghi-quyet

Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triến Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới

Số hiệu
158/NQ-CP
Ngày ban hành
19 tháng 6, 2026
Số điều
4
Điều Lời mở đầu

CHÍNH PHỦ

__________

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________________________________

Số: 158/NQ-CP

Hà Nội, ngày 19 tháng 6 năm 2026

NGHỊ QUYẾT

Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị

về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới

____________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;

Căn cứ Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Bộ

Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại Tờ trình số 254/TTr-BTC

ngày 28 tháng 4 năm 2026 và Công văn số 7818/BTC-KTĐP ngày 09 tháng 6

năm 2026 về việc tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ hoàn thiện dự thảo Nghị

quyết của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết

số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị;

Trên cơ sở ý kiến biểu quyết của các Thành viên Chính phủ,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1Ban hành kèm theo Nghị quyết này Chương trình hành động của

Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị quyết này Chương trình hành động của

Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17 tháng 3 năm 2026 của

Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.

Điều 2Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Điều 2. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Điều 3Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban

Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban

nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có

liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

TM. CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG

Lê Minh Hưng

CHÍNH PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

________

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________________________

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ

Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17 tháng 3 năm 2026

của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội

trong kỷ nguyên mới

(Kèm theo Nghị quyết số 158/NQ-CP

ngày 19 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ)

___________

Căn cứ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tại Nghị

quyết số 02-NQ/TW ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về xây dựng

và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới (sau đây gọi là Nghị quyết số 02NQ/TW), Chính phủ ban hành Chương trình hành động triển khai thực hiện

Nghị quyết số 02-NQ/TW như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1. Việc xây dựng và ban hành Nghị quyết về Chương trình hành động của

Chính phủ nhằm thống nhất chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức quán triệt đầy

đủ, nghiêm túc và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TW

ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô

Hà Nội trong kỷ nguyên mới.

2. Xây dựng và phát triển Thủ đô lấy con người làm trung tâm, chủ thể,

mục tiêu và động lực của phát triển; chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của

nhân dân làm thước đo; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và

phát triển kinh tế tuần hoàn làm động lực trọng tâm để thúc đẩy tăng trưởng

nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô Hà Nội trong kỷ

nguyên mới. Phát triển Thủ đô phải đi đôi với ổn định bền vững - lấy ổn định

chính trị - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự làm bệ đỡ để xây dựng, phát triển

Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.

3. Cụ thể hóa nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Nghị quyết số 02-NQ/TW bằng

những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, thiết thực khả thi có tính đột phá cao của

Chính phủ gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể nhằm đạt

được mục tiêu của Nghị quyết số 02-NQ/TW đề ra; là căn cứ để các bộ, cơ quan

trung ương và Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô,

vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và cả nước xây

dựng kế hoạch hành động của từng bộ, cơ quan và địa phương theo chức năng,

nhiệm vụ được giao và tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả,

phấn đấu đạt được các mục tiêu cao nhất đã đề ra tại Nghị quyết số 02-NQ/TW.

4. Chương trình hành động phải thể hiện rõ vai trò kiến tạo, điều phối

của Chính phủ theo tinh thần đồng hành cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân

dân Thủ đô; xác định nhiệm vụ chủ yếu để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,

các bộ, ngành và UBND thành phố Hà Nội và UBND các tỉnh, thành phố trong

vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc

tập trung chỉ đạo, xây dựng thực hiện các chủ trương, chính sách đột phá; huy

động nguồn lực thực hiện các chương trình, đề án và dự án quan trọng, xây

dựng cơ chế đặc thù vượt trội; phân cấp, phân quyền triệt để, toàn diện gắn với

cơ chế kiểm soát và trách nhiệm giải trình của chính quyền Thủ đô; tăng cường

liên kết vùng và hội nhập quốc tế sâu rộng.

5. Phấn đấu đạt các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể tại Nghị quyết số 02-NQ/TW:

a) Giai đoạn từ nay đến năm 2035:

- Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh

hoa văn hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có năng lực cạnh tranh cao,

thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc, trở thành điểm đến an toàn, thân

thiện và hấp dẫn. Hình thành một số trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất

lượng cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; trung

tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo quốc gia, khu vực và quốc

tế; trung tâm nghiên cứu và phát triển; là hạt nhân trong chuỗi liên kết phát triển

vùng cả nước, khu vực và toàn cầu.

- Một số chỉ tiêu cụ thể:

Giai đoạn 2026 - 2030: Tăng trưởng GRDP bình quân trên 11%/năm. Đến

năm 2030, quy mô GRDP đạt trên 113 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người tối

thiểu 12.000 USD. Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào

tăng trưởng đạt 57%; kinh tế số đạt tối thiểu 40% GRDP; công nghiệp văn hóa

đóng góp khoảng 9% GRDP; hoàn thành xử lý các điểm nghẽn về ngập úng, ô

nhiễm, ùn tắc giao thông, trật tự đô thị, an toàn xã hội và vệ sinh an toàn

thực phẩm.

Giai đoạn 2031 - 2035: Tăng trưởng GRDP bình quân từ 11% trở lên.

Đến năm 2035, quy mô GRDP đạt khoảng 200 tỷ USD; GRDP bình quân đầu

người tối thiểu 18.800 USD; Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng

hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 60%; Tỷ lệ đóng góp của kinh tế số đạt 50%;

Tỷ lệ công nghiệp văn hóa đạt từ 10% trở lên.

b) Giai đoạn đến năm 2045:

- Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu

vực Châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản

trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn,

đáng sống, hạnh phúc.

- Một số chỉ tiêu cụ thể: Giai đoạn 2036 - 2045, tăng trưởng GRDP bình

quân trên 11%/năm. Đến năm 2045, quy mô GRDP đạt khoảng 640 tỷ USD;

GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 42.000 USD.

c) Hướng tới 100 năm giải phóng Thủ đô (năm 2054) và đến năm 2065:

- Thủ đô Hà Nội là thành phố toàn cầu, có trình độ phát triển cao và bền

vững; thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao trên thế giới.

- Một số chỉ tiêu cụ thể: Giai đoạn 2046 - 2065, tăng trưởng GRDP bình

quân trên 5%/năm. Đến năm 2065, quy mô GRDP đạt khoảng 1.920 tỷ USD;

GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 95.000 USD, thuộc nhóm cao trên

thế giới.

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, Chính phủ

yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND thành phố Hà Nội, các địa phương

trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi

phía Bắc và các địa phương trong cả nước cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai

các nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến thông tin và tổ chức triển

khai thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TW

- Các bộ, ngành, UBND thành phố Hà Nội và các địa phương trong cả

nước chủ động phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thông để

nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến thông tin về Nghị Quyết số 02NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ đến đội ngũ cán bộ, đảng

viên, công chức, viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý và nhân

dân để tạo sự thống nhất trong nhận thức ở tất cả các cấp, các ngành về vị trí, vai

trò và tầm quan trọng đặc biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường,

quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Thủ đô Hà Nội đối với cả nước.

- Công tác tuyên truyền về Nghị quyết 02-NQ/TW cần được tiến hành

với quy mô sâu rộng với nhiều hình thức đa dạng, phong phú và phù hợp với

từng đối tượng, kết hợp với việc tuyên truyền thực hiện Nghị quyết Đại hội

XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố gắn với từng giai đoạn,

tạo nhận thức sâu sắc về cơ hội, thuận lợi, thách thức, cũng như những yếu tố

tiềm năng, lợi thế, vị thế, tầm quan trọng đặc biệt của Thủ đô Hà Nội để tiếp

tục tạo ra đột phá mới cho thành phố trong những năm tới.

- Tăng cường và nâng cao có hiệu quả ứng dụng công nghệ truyền thông

mới, mạng xã hội, áp dụng nhiều hình thức, phương thức đa dạng để phổ biến

thông tin và triển khai thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW đạt kết quả cao nhất.

2. Quy hoạch phát triển Thủ đô với tầm nhìn dài hạn, ổn định

- Trong năm 2026, các bộ, ngành và các địa phương chủ động phối hợp

chặt chẽ với thành phố Hà Nội hoàn thành lập Quy hoạch tổng thể Thủ đô bảo

đảm ổn định, lâu dài với tầm nhìn chiến lược 100 năm. Thành phố Hà Nội chủ

động phối hợp với các bộ, ngành và các địa phương trong vùng để rà soát, lập

Quy hoạch tổng thể Thủ đô trên cơ sở cụ thể hóa các nội dung quy hoạch cấp

quốc gia, quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi

phía Bắc và bảo đảm đồng bộ, kết nối với các quy hoạch tỉnh của các tỉnh, thành

phố trong vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc theo

quy định của pháp luật. Các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng

sông Hồng, vùng trung du miền núi phía Bắc, chủ động nghiên cứu Quy hoạch

tổng thể Thủ đô tầm nhìn chiến lược 100 năm để điều chỉnh các quy hoạch của

địa phương mình nhằm bảo đảm phù hợp, đồng bộ.

- Quy hoạch tổng thể Thủ đô được lập theo hướng chuyển từ “quy hoạch

tĩnh” sang “quy hoạch động và mở” hướng tới mục tiêu xây dựng Thủ đô “Văn

hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, mở rộng không gian phát triển gắn

với chiến lược phát triển hạ tầng kết nối hiện đại, ứng dụng công nghệ số, dữ

liệu lớn và bản sao số (Urban Digital Twin) nhằm đảm bảo tính khoa học, minh

bạch và khả năng thích ứng cao với các biến động của thực tiễn.

- Xây dựng và phát triển thành phố theo mô hình, cấu trúc chùm đô thị đa

tầng, đa lớp, đa cực và đa trung tâm. Trong đó, Hà Nội là đô thị trung tâm hạt

nhân, đóng vai trò kết nối vùng và liên vùng quốc tế, các đô thị thuộc tỉnh giáp

ranh là hệ thống đô thị vệ tinh với vai trò, chức năng rõ ràng để hỗ trợ, chia sẻ

áp lực và tạo động lực phát triển chung cho cả vùng; cụ thể hóa cấu trúc “đơn

cực tập trung” sang “đa cực - đa trung tâm” kết hợp với các trục động lực có

chức năng chuyên biệt nhưng gắn kết hữu cơ trong thể thống nhất của Thủ đô,

vùng Thủ đô và cả nước cùng hệ thống các vành đai phát triển đô thị, hành lang

phát triển kinh tế1 nhằm thúc đẩy liên kết vùng và quốc gia.

- Xây dựng không gian phát triển cấu trúc đô thị Thủ đô lấy sông Hồng

làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo, kết hợp hài hòa với việc duy trì

và phát huy hệ thống hành lang xanh từ sông Đuống, sông Đáy, sông Nhuệ,

sông Tô Lịch và rừng đặc dụng Ba Vì tạo nền tảng sinh thái bền vững, đảm bảo

sự cân bằng giữa bảo tồn các giá trị thiên nhiên, di sản văn hóa với nhu cầu

phát triển đô thị hiện đại.

- Quy hoạch tổng thể Thủ đô phải có các giải pháp để quản lý, kiểm soát

phát triển đô thị và nông thôn; phát triển không gian tại các bãi nổi trên sông;

vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại các sông, kênh trong khu vực đô thị và hệ

thống thủy lợi; công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai,

bảo vệ không gian thoát lũ trên các lưu vực sông, lòng sông; nguy cơ ngập lụt

nội đô vào mùa mưa lũ…

1 (1) Hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; (2) Hành lang kinh tế Bắc - Nam.

- Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, nhất

là hạ tầng giao thông kết nối các vùng động lực, hành lang phát triển Thủ đô với

liên vùng và nội vùng để tăng cường liên kết, mở rộng không gian phát triển tạo

nền tảng cho sự phát triển Thủ đô.

- Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống đường sắt đô thị, đến

năm 2030, phấn đấu hoàn thành khoảng 100 km đường sắt đô thị; từng bước làm

chủ công nghệ, nâng cao năng lực đầu tư, quản lý và vận hành, đến năm 2030

làm chủ ít nhất 50% khối lượng công việc và làm chủ toàn bộ vào năm 2050.

Nghiên cứu xây dựng các tuyến đường sắt tốc độ cao, kết nối vùng, cảng thủy

nội địa, sân bay.

- Đầu tư nâng cấp để từng bước khai thác hiệu quả lưỡng dụng các sân

bay Gia Lâm, Hòa Lạc. Khẩn trương nghiên cứu quy hoạch xây dựng sân bay

quốc tế thứ hai tại khu vực phía Nam gắn với các khu thương mại tự do, trung

tâm logistics hiện đại. Không gian đô thị được mở rộng khai thác tối ưu cả về

chiều sâu (không gian ngầm), chiều cao và tầm thấp; trong đó ưu tiên ngầm hóa

toàn bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và phát triển mạng lưới tàu điện ngầm tại các

khu vực trọng điểm.

- Đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng chiến lược, thích ứng với

biến đổi khí hậu; cải thiện nâng cao năng lực hệ thống cấp, thoát nước, chống

ngập; đầu tư cải tạo, nâng cấp đồng bộ các tuyến đê, các công trình chuyển

nước kết hợp với tạo cảnh quan đô thị, môi trường; đến năm 2030, cơ bản giải

quyết tình trạng úng ngập tại nội đô.

- Xây dựng và phát triển đô thị nén, đô thị xoay quanh các điểm trung

chuyển giao thông công cộng (TOD) để hình thành các chuỗi đô thị thông minh

kết nối đô thị trung tâm. Quản lý, phát triển đô thị theo hướng tích hợp hạ tầng

số, dữ liệu đô thị, năng lượng xanh và quản trị số. Rà soát, tổ chức xây dựng và

thực hiện có hiệu quả quy hoạch phát triển không gian ngầm, không gian tầm

thấp và tầm cao; ưu tiên quy hoạch diện tích cây xanh, mặt nước, công trình

công cộng. Có cơ chế, chính sách đột phá hỗ trợ người dân để chuyển đổi giao

thông xanh, giao thông công cộng; kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá

nhân; khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông trong nội đô và các cửa ngõ.

- Đẩy nhanh lộ trình tái cấu trúc đô thị; khẩn trương cải tạo các khu chung

cư cũ gắn với việc chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị lân cận, tái thiết các khu

đô thị có hạ tầng yếu kém, xuống cấp để hình thành các khu đô thị văn minh,

hiện đại, đa mục tiêu; đến năm 2030, hoàn thành cải tạo, xây dựng lại các khu

chung cư cũ, nguy hiểm cấp độ D. Nghiên cứu, xây dựng chính sách đột phá

nhất là về đất đai, tài chính để doanh nghiệp dễ tiếp cận quỹ đất, nguồn vốn

phát triển dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê. Quyết liệt di dời các cơ sở gây ô

nhiễm, cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, y tế không còn phù hợp quy hoạch ra

khỏi khu vực nội thành gắn với kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đất sau di dời

bảo đảm đồng bộ với quy hoạch. Phát triển đô thị sinh thái kết hợp hài hòa giữa

bảo tồn bản sắc văn hóa, truyền thống với phát triển không gian đổi mới sáng tạo.

- Tổ chức rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của thành phố đến

năm 2030 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2026 - 2030 và các năm tiếp theo

bảo đảm quy hoạch và bố trí quỹ đất dự trữ chiến lược để tạo dư địa phát triển

lâu dài, trong đó, ưu tiên bố trí quỹ đất phù hợp cho văn phòng tập trung để thu

hút các tập đoàn quốc tế, đa quốc gia đặt trụ sở; bố trí quỹ đất có hạ tầng đồng

bộ và có cơ chế hỗ trợ phù hợp cho các cơ sở sản xuất, trụ sở làm việc, cơ sở

hoạt động sự nghiệp phải di dời; có cơ chế điều chỉnh linh hoạt mục đích sử

dụng nhà ở xã hội, tái định cư, nhà cho thuê, nhà công vụ và nhà ở thương mại

nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân và góp phần bình ổn thị trường bất

động sản.

- Nghiên cứu, đánh giá, phân tích cơ chế chính sách, kinh nghiệm, cách

làm hay ở trong nước và quốc tế để có thể vận dụng tại thành phố làm cơ sở

báo cáo cấp có thẩm quyền cho phép hình thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc

biệt, trung tâm tài chính, trung tâm thương mại và kinh doanh (CBD), khu

thương mại tự do (FTZ) gắn với sân bay và đường sắt quốc tế.

- Quy hoạch và có cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho các

hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để thu

hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhằm xây dựng và phát triển “thung

lũng công nghệ”, trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với giáo

dục, đào tạo, y tế chất lượng cao và chuyển giao công nghệ để hình thành hệ

sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi hiện thực hóa các ý tưởng, nghiên cứu và phát

triển các ngành nghề công nghệ mới, có giá trị gia tăng cao như: trí tuệ nhân

tạo, chíp bán dẫn, công nghệ sinh học, y học, công nghệ môi trường…

3. Đẩy mạnh liên kết, phát triển vùng

- Phát huy vai trò hạt nhân, thành phố Hà Nội chủ động dẫn dắt trong việc

thiết lập và vận hành không gian phát triển vùng mở với cơ chế phối hợp linh

hoạt, hiệu quả nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế cùa từng địa phương đưa

vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc

trở thành không gian kinh tế - sáng tạo, phát triển năng động, có sức cạnh tranh

cao trong khu vực và quốc tế.

- Nghiên cứu, xây dựng cơ chế điều phối vùng đủ mạnh để bảo đảm hiệu

lực, hiệu quả điều phối, liên kết vùng trên nguyên tắc cùng phát triển, cùng chia

sẻ lợi ích và trách nhiệm. Thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Hội

đồng điều phối vùng Thủ đô; Hà Nội chủ trì, phối hợp với các địa phương trong

vùng Thủ đô để thống nhất, quyết định các vấn đề liên vùng, trong đó tập trung

vào một số lĩnh vực như quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư,

phát triển chuỗi giá trị, các cụm liên kết ngành, xử lý ô nhiễm môi trường, trọng

tâm là ô nhiễm nguồn nước (nhất là lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy, hệ thống thủy

lợi Bắc Hưng Hải) và không khí.

- Hợp tác chặt chẽ, hiệu quả với các tỉnh, thành trong cả nước trên tinh

thần “Hà Nội vì cả nước, cả nước vì Hà Nội”; phát triển, thúc đẩy kết nối nội

vùng, liên vùng, phát huy lợi thế cạnh tranh của Thủ đô trong tam giác phát triển

kinh tế phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) và các địa phương trong

hành lang kinh tế ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình để

hình thành chuỗi vành đai công nghiệp, đô thị, dịch vụ liên kết. Đồng thời, khai

thác tối đa lợi thế từ các hành lang kinh tế quốc gia và quốc tế đi qua địa bàn2,

biến các trục giao thông lớn thành các hành lang kinh tế năng động, thu hút dòng

vốn đầu tư dịch chuyển theo hướng bền vững.

- Thành phố Hà Nội khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành và địa

phương trong vùng Thủ đô xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn chung đối với

các công trình hạ tầng liên vùng, giao thông kết nối, các công trình xử lý ô

nhiễm môi trường, nguồn nước.

- Tập trung ưu tiên huy động và bố trí nguồn lực để phát triển hệ thống

kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là đầu tư theo phương thức đối tác công tư

(PPP), trong đó vốn ngân sách nhà nước đóng vai trò dẫn dắt khu vực tư nhân

để đầu tư các công trình trọng điểm, động lực, có tính lan tỏa, kết nối vùng,

kết nối các phương thức vận tải khác nhau. Tập trung hoàn thiện mạng lưới

giao thông đồng bộ, hiện đại, kết nối nội vùng, liên vùng và quốc tế; phát triển

vận tải đa phương thức, phát huy lợi thế về hàng không, đường bộ, đường sắt,

đường thủy nội địa và các hành lang kết nối của vùng. Đẩy nhanh tiến độ,

hoàn thành dứt điểm các dự án giao thông đô thị, các tuyến cao tốc, vành đai,

quốc lộ hướng tâm, hệ thống giao thông tĩnh, nhất là sớm hoàn thành các tuyến

đường sắt đô thị tại Thủ đô Hà Nội.

- Tiếp tục tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

để phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội khác có tính liên kết, phát triển vùng. Đa

dạng hóa nguồn lực và hình thức đầu tư. Thành phố nghiên cứu và thành lập

Quỹ phát triển vùng Thủ đô trên cơ sở thống nhất của các địa phương trong

vùng để đầu tư các dự án liên kết, phát triển vùng Thủ đô, ưu tiên các dự án

giao thông trọng điểm liên kết vùng, các dự án xử lý ô nhiễm môi trường, khai

thác khoáng sản, xử lý sự cố, thiên tai, kiểm soát bệnh tật có tính chất vùng.

4. Xây dựng thể chế đột phá phát triển Thủ đô

- Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách đặc thù, đồng bộ để phát triển

Thủ đô, để Thủ đô Hà Nội đủ ưu việt, năng lực xử lý hiệu quả các vấn đề của

Hà Nội, của vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng nhằm phát huy vai trò là

đầu tàu, động lực phát triển của vùng và cả nước.

Hành lang kinh tế Bắc - Nam; Hành lang kinh tế Côn Minh (Trung Quốc) - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng

Ninh; Hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

- Hoàn thành và trình cấp có thẩm quyền ban hành Luật Thủ đô (sửa đổi)

trong tháng 4 năm 2026; phối hợp với thành phố xây dựng và ban hành các văn

bản hướng dẫn của Luật trong năm 2026; trong đó, phân cấp, phân quyền triệt

để trong các lĩnh vực (trừ các nội dung về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và

tôn giáo); tăng thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; cho phép

chính quyền địa phương ở thành phố được ban hành văn bản để tổ chức, hướng

dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác hoặc chưa có quy định của cơ

quan nhà nước có thẩm quyền; mở rộng quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách

nhiệm trong tổ chức bộ máy, quản trị hành chính; quyết định biên chế các cơ

quan trong hệ thống chính trị, chế độ công vụ, công chức, viên chức, thu nhập,

tiền thưởng,… nhằm bảo đảm Thủ đô có đầy đủ thẩm quyền, công cụ và nguồn

lực để chủ động quyết định các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, gắn liền với

cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình minh bạch.

- Thành phố thực hiện phân cấp, phân quyền, ủy quyền cho chính quyền

địa phương cấp xã thực hiện một số cơ chế thí điểm phù hợp trong một số lĩnh

vực: quy hoạch, đầu tư, tài chính - ngân sách, đô thị, đất đai, môi trường, thủ

tục hành chính… nhằm đẩy nhanh tiến độ, tăng tính sáng tạo, chủ động, tự chủ,

tự chịu trách nhiệm trong xử lý công việc gắn với kiểm soát quyền lực và trách

nhiệm giải trình trong thực hiện nhiệm vụ.

- Cho phép thành phố được phép thí điểm các cơ chế thử nghiệm có kiểm

soát (sandbox) đối với các mô hình kinh tế mới, công nghệ mới, doanh nghiệp

khởi nghiệp sáng tạo và các giải pháp quản trị đô thị hiện đại và các cơ chế,

chính sách mới hoặc khác với quy định của pháp luật hiện hành nhằm tháo gỡ

các “điểm nghẽn” về pháp lý mà còn tạo không gian sáng tạo tối đa để Thủ đô

tiên phong thử nghiệm các chính sách phát triển của quốc gia để từ đó tổng kết,

đánh giá đề xuất nhân rộng trên phạm vi cả nước. Đồng thời, nghiên cứu xây

dựng cơ chế phù hợp để bảo vệ cán bộ, miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với

các trường hợp không tư lợi, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, quyền hạn được

giao theo quy định trong thực thi nhiệm vụ.

- Trong công tác quản trị, chủ động xác lập mô hình quản trị thông minh

hiện đại, hệ thống quản lý phù hợp được chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản

lý hành chính truyền thống sang tư duy chính quyền kiến tạo phát triển, vận

hành trên nền tảng dữ liệu thời gian thực và trí tuệ nhân tạo (AI). Xây dựng

chính quyền số, chuyển đổi số toàn diện các hoạt động quản lý nhà nước,

chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình tiền kiểm sang hậu kiểm, cắt giảm thủ tục hành

chính, quản lý số hóa dựa trên dữ liệu định danh và xác thực điện tử.

5. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Thủ đô

- Xây dựng và phát triển toàn diện văn hóa, con người Thủ đô ngang tầm

với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, hướng tới chân - thiện - mỹ, thấm nhuần

tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học, tạo sức mạnh nội sinh to lớn

gắn với bảo tồn, phát huy giá trị nghìn năm văn hiến, kết hợp hài hòa giữa

truyền thống và hiện đại, nhân văn, lấy người dân là trung tâm; gìn giữ và phát

huy giá trị con người Hà Nội “thanh lịch, văn minh, trách nhiệm, nghĩa tình”.

Ưu tiên đầu tư cho con người, văn hóa, môi trường sống an toàn, lành mạnh

nhằm duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao.

- Tập trung đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di sản, di tích lịch

sử - văn hóa quốc gia đặc biệt, di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, các công trình

kiến trúc có giá trị văn hóa lịch sử trên địa bàn, trọng tâm là bảo tồn, tôn tạo,

phục dựng và mở rộng không gian lịch sử - văn hóa tiêu biểu của Thủ đô như:

Khu di sản Hoàng thành Thăng Long, khu di tích Cổ Loa, Văn Miếu - Quốc Tử

Giám để Thủ đô thực sự là trung tâm hội tụ, kết tinh văn hóa của cả nước, xứng

tầm với truyền thống ngàn năm văn hiến Thăng Long - Hà Nội. Phát huy di sản

gắn với phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa và giáo dục truyền

thống, góp phần khẳng định bản sắc và chiều sâu văn hiến của Thủ đô Hà Nội.

- Hoàn thành quy hoạch và đầu tư hình thành một số khu vực du lịch

trọng điểm trên địa bàn Thủ đô: Hồ Tây, núi Ba Vì, Hương Sơn, Sóc Sơn. Tập

trung đầu tư phát triển văn hóa gắn với các hoạt động trải nghiệm, du lịch đêm,

du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện và khen thưởng

(MICE),… để tạo thương hiệu sản phẩm du lịch nổi bật tại các di sản văn hóa

như: Phố cổ - hồ Hoàn Kiếm, Hoàng Thành Thăng Long, Cổ Loa, làng cổ

Đường Lâm, làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc,…; du lịch trải nghiệm,

du lịch sinh thái gắn với bảo tồn di sản, rừng quốc gia, du lịch tâm linh theo

hướng bền vững để hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh của thành phố.

- Có giải pháp quản lý bảo vệ và phát triển vườn quốc gia Ba Vì nhằm

bảo đảm duy trì tính bền vững của hệ sinh thái và môi trường sống của các loại

động, thực vật quý hiếm trên địa bàn, đồng thời phát huy các giá trị về cảnh

quan tự nhiên, văn hóa để phát triển du lịch. Ưu tiên nguồn lực để cải tạo, làm

sạch hệ thống sông, hồ (sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tô Lịch,…) gắn với xử lý

triệt để ô nhiễm môi trường, góp phần tạo cảnh quan, điểm nhấn và phát triển

văn hóa, du lịch của Thủ đô.

- Phát triển công nghiệp văn hóa và thị trường các dịch vụ văn hóa thành

ngành kinh tế chủ lực gắn với phát triển dịch vụ du lịch với các sản phẩm đặc

sắc là thế mạnh của Thủ đô như: Thiết kế, du lịch văn hóa, ẩm thực, nghệ thuật

biểu diễn, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, điện ảnh, quảng cáo, tổ chức sự kiện văn hóa - thể thao… Hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa như: Trung

tâm hội nghị, hội thảo, nghỉ dưỡng cấp quốc tế; tập trung đầu tư xây dựng các

công trình văn hóa mới, hiện đại, đặc sắc, mang tính biểu tượng của Thủ đô

trong kỷ nguyên mới (nhà hát Ngọc Trai, nhà hát Thăng Long); các công trình

quảng trường, tượng đài, công viên, không gian công cộng phục vụ nhu cầu

người dân và khách du lịch bảo đảm môi trường sống văn minh, hiện đại, nhân

văn, hạnh phúc.

- Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi

cho phát triển công nghiệp văn hóa nhất là đối với các ngành có tiềm năng, lợi

thế; có cơ chế chính sách ưu đãi phù hợp để thu hút đầu tư vào các không gian

sáng tạo, trung tâm thiết kế, trung tâm biểu diễn nghệ thuật, thư viện công cộng,

thư viện số, bảo tàng tư nhân, cơ sở sản xuất sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng

cao, đồng thời, nghiên cứu cơ chế đầu tư, khai thác và vận hành các công trình

văn hóa, thể thao, không gian sáng tạo quy mô lớn.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn, số hóa, giới thiệu và

quảng bá di sản; phát triển các dịch vụ thư viện số; phát triển các sản phẩm du

lịch văn hóa, sản phẩm lưu niệm, sản phẩm thiết kế sáng tạo, các chương trình

biểu diễn, trải nghiệm văn hóa có chất lượng cao, mang đậm bản sắc Thủ đô.

Phát triển sản phẩm văn hóa gắn với xây dựng thương hiệu văn hóa Hà Nội,

vừa bảo đảm giá trị truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu tiếp cận của công chúng

trong nước và quốc tế.

- Thành phố chủ động xây dựng và phát triển văn hóa đọc trong mọi tầng

lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên; chú trọng

tới người dân vùng nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; cải

thiện môi trường đọc; đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập.

- Phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại và hội nhập

với bản sắc truyền thống của con người Thủ đô văn minh, thanh lịch, trong đó

đẩy mạnh giáo dục STEM/STEAM và tăng cường thu hút thanh niên, thiếu niên

tham gia học tập các môn học/chuyên ngành STEM/STEAM làm nền tảng để

đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế

tri thức trong kỷ nguyên mới. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, sử

dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước nhất là trong lĩnh vực

khoa học, công nghệ đến làm việc, cống hiến cho Thủ đô.

- Đầu tư xây dựng mạng lưới cơ sở giáo dục các cấp theo hướng tiếp cận

người học, đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập ngày

càng tăng. Tập trung xây dựng các khu đại học tập trung gắn với khu công nghệ

cao và các cực phát triển; phấn đấu đến năm 2035 có ít nhất 02 cơ sở giáo dục

đại học trên địa bàn thành phố có một số ngành thuộc nhóm 100 trường đại học

hàng đầu thế giới. Có cơ chế khuyến khích đầu tư các loại hình liên kết đào tạo

trong nước và quốc tế; đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút các nguồn lực đầu tư

vào giáo dục và đào tạo nhằm cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo

dục, đáp ứng nhu cầu giáo dục chất lượng cao và hội nhập quốc tế.

- Phát triển đồng bộ, toàn diện lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe người

dân theo hướng tiên tiến, hiện đại, hiệu quả với hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh

đủ năng lực cung ứng dịch vụ y tế chất lượng cao đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức

khỏe; tập trung đầu tư xây dựng một số bệnh viện trong một số lĩnh vực chuyên

sâu có trình độ tiệm cận trình độ khu vực và quốc tế. Đẩy mạnh xã hội hóa trong

lĩnh vực y tế, khuyến khích phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập, hình thành

hệ thống y tế tư nhân chất lượng cao, kết hợp phát triển du lịch với chăm sóc sức

khỏe, chữa bệnh. Thúc đẩy phát triển kinh tế bạc gắn với đầu tư xây dựng, hình

thành các khu phức hợp chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, nghỉ dưỡng,

dưỡng lão cho người cao tuổi,…

- Thành phố chủ động thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách, pháp

luật về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; nâng cao đời sống vật chất, tinh

thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo; qua đó góp phần củng

cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc thiểu số; huy động và sử dụng

hiệu quả các nguồn lực dân tộc, tôn giáo như nguồn nhân lực, nguồn lực tinh

thần (văn hóa bản sắc truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; văn hóa, đạo

đức của các tôn giáo), nguồn lực vật chất (các cơ sở thờ tự, cơ sở tín ngưỡng tôn

giáo, các trường học, cơ sở y tế của các tôn giáo…) và nguồn lực tài chính cho

việc thực hiện các mục tiêu phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.

- Xây dựng hệ thống an sinh - xã hội bao trùm, bền vững là nhiệm vụ

then chốt để đảm bảo công bằng xã hội và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa

khu vực thành thị và nông thôn. Hà Nội tập trung các nguồn lực để thực hiện

mục tiêu giảm nghèo bền vững, chăm lo cho các đối tượng yếu thế và nâng

cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đặc biệt, việc nghiên cứu và triển

khai các mô hình quản lý, khai thác hiệu quả các thiết chế văn hóa quốc gia

trên địa bàn, bao gồm cả các khu vực bảo tồn văn hóa dân tộc sẽ được thực

hiện theo hướng thống nhất đầu mối, đảm bảo quản lý chặt chẽ nhưng vẫn

phát huy tối đa giá trị sinh thái và du lịch.

- Phấn đấu đến năm 2035, Hà Nội không chỉ là trung tâm văn hóa, sáng

tạo hàng đầu khu vực mà con người Thủ đô với nét đặc trưng thanh lịch, văn

minh, trách nhiệm và nghĩa tình sẽ trở thành biểu tượng của sức mạnh Việt

Nam. Các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn về văn hóa và

con người sẽ tiếp tục được triển khai để đúc kết, hình thành nên hệ giá trị Thủ

đô vững chắc, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và lâu dài của quốc gia.

6. Xác lập mô hình tăng trưởng mới của Thủ đô

- Trong năm 2026, hoàn thành Đề án xây dựng mô hình tăng trưởng mới

của Thủ đô lấy tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số,

nguồn lực văn hóa và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực trung tâm, là

yếu tố then chốt tạo đột phá về năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh.

- Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm khoa học, công nghệ, đổi

mới sáng tạo, công nghệ số và dịch vụ giá trị cao với các chính sách hỗ trợ đột

phá, hàng đầu của cả nước ngang tầm với các nước trong khu vực và Châu Á,

đóng vai trò dẫn dắt các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ

của vùng và cả nước.

- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo, công nghệ tài chính,

y tế, giáo dục chất lượng cao và công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng

trưởng chủ yếu; phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia

sẻ, kinh tế đô thị gắn với không gian văn hóa - sáng tạo, không gian công cộng,

kinh tế ban đêm gắn với khai thác có hiệu quả không gian văn hóa - lịch sử, phố

cổ, phố đi bộ… Tiếp tục tái cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghiệp công

nghệ cao có giá trị gia tăng cao, công nghệ sinh thái giữ vai trò dẫn dắt trong các

chuỗi liên kết phát triển hành lang công nghiệp - đô thị - dịch vụ nội vùng và liên

vùng. Ưu tiên phát triển công nghiệp bán dẫn, công nghệ thông tin, công nghệ

số, trí tuệ nhân tạo, điện toán, Internet vạn vật (IoT), …

- Tiếp tục tăng cường thu hút đầu tư phát triển các khu công nghệ cao,

khu công nghiệp, khu công nghệ số tập trung theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó

có các trung tâm nghiên cứu và phát triển của các tập đoàn công nghệ lớn trong

và ngoài nước để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thủ đô. Ưu tiên

thu hút đầu tư và xây dựng Khu Công nghệ cao Hòa Lạc trở thành trung tâm

nghiên cứu - phát triển (R&D) làm hạt nhân để phát triển khu vực phía Tây Thủ

đô Hà Nội trở thành đô thị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; là nơi tập

trung thí điểm cơ chế, chính sách, công nghệ mới, áp dụng thử nghiệm có kiểm

soát công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm mới; bảo đảm cung cấp đủ điện,

công suất cho nhu cầu sản xuất công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghệ

cao như bán dẫn, điện tử có nhu cầu điện năng lớn, gắn với lộ trình phát triển

Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và các khu công nghiệp mới.

- Hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp để thành lập các trung tâm nghiên

cứu và phát triển (R&D), trung tâm chuyển giao công nghệ, trung tâm đào tạo

nguồn nhân lực chất lượng cao, trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào

tạo chất lượng cao trên cơ sở liên kết giữa các viện nghiên cứu, đại học - doanh

nghiệp - các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước và quốc tế - tổ chức tài

chính để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu thực tế. Đồng

thời có cơ chế đủ mạnh để khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp nhất là doanh

nghiệp nhỏ và vừa tham gia và phát triển khoa học công nghệ, khởi nghiệp sáng

tạo; đẩy mạnh cơ chế đặt hàng tạo ra các sản phẩm từ hoạt động khoa học và

công nghệ, đổi mới sáng tạo nhằm hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thương

mại hóa kết quả nghiên cứu sản phẩm khoa học, công nghệ. Rà soát, hoàn thiện

hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và nâng cao năng lực bảo hộ

sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ sản xuất

tại Thủ đô.

- Thành phố Hà Nội phối hợp với các bộ, cơ quan nghiên cứu, đề xuất

các giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần

hoàn, tạo nền tảng xác lập mô hình tăng trưởng mới của Thủ đô Hà Nội theo

hướng dựa vào tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, sử dụng hiệu quả tài

nguyên, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền

kinh tế. Phát triển kinh tế tuần hoàn tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp chế

biến, năng lượng theo hướng công nghệ cao, xanh, sạch, hiệu quả, phát thải

thấp gắn với năng lượng tái tạo, năng lượng mới, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi

trường và vật liệu mới. Chủ động hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát

triển các ngành, lĩnh vực xanh, ít phát thải; phát triển hạ tầng xanh, giao thông

xanh, công trình xanh, khu công nghiệp sinh thái; khuyến khích doanh nghiệp

đổi mới công nghệ, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, tăng tái sử dụng,..

góp phần đưa Thủ đô phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu.

7. Phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thủ đô

Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng

lấy khoa học và công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để

phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thủ đô như dịch vụ tài chính, ngân

hàng và logistics; công nghiệp công nghệ cao, kinh tế đô thị, kinh tế ban đêm,

kinh tế sáng tạo và các ngành dịch vụ giá trị cao. Cụ thể:

- Phát triển mạnh dịch vụ logistics; tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng

logistics, trung tâm logistics gắn kết hữu cơ với định hướng không gian phát

triển công nghiệp đặc biệt là vành đai công nghiệp liên vùng của thành phố kết

nối với các quốc gia, địa phương trong cả nước về đường bộ, đường sắt, đường

thủy, đường hàng không qua đó bảo đảm tính đồng bộ trong phát triển hạ tầng

sản xuất và lưu thông hàng hóa, giảm chi phí logistics, nâng cao hiệu quả vận

hành chuỗi cung ứng và hạn chế tình trạng quá tải hạ tầng giao thông đô thị để

xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội sớm trở thành trung tâm đầu mối trung

chuyển kết nối quốc tế, có dịch vụ logistics.

- Hình thành và phát triển Trung tâm tài chính hài hòa kết nối không

gian di sản và hiện đại dọc trục hồ Hoàn Kiếm - Hồ Tây - sông Hồng trước năm

2030. Nghiên cứu xây dựng khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do gắn với

sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay quốc tế Gia Bình và tuyến đường sắt tốc độ

cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

- Đa dạng hóa các loại hình thương mại, dịch vụ; hỗ trợ đầu tư hạ tầng

thương mại dịch vụ đặc biệt là trung tâm, sàn giao dịch thương mại điện tử,

hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số và thương mại điện tử… để từng bước xây

dựng Hà Nội trở thành trung tâm dịch vụ giá trị cao của quốc gia, khu vực và

quốc tế.

- Xây dựng và hình thành “thung lũng công nghệ”, “vườn ươm công

nghệ, doanh nghiệp công nghệ”, trung tâm đổi mới sáng tạo gắn với giáo dục,

đào tạo và y tế chất lượng cao, tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ của

Thủ đô. Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội để thu hút các

doanh nghiệp công nghệ, tổ chức nghiên cứu và phát triển, các cơ sở đào tạo,

bệnh viện, cơ sở y tế chất lượng cao, chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài

nước tham gia hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo. Ưu tiên đầu tư

phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, không gian nghiên cứu, thử nghiệm,

ươm tạo, chuyển giao công nghệ tại các khu công nghệ, trung tâm đổi mới sáng

tạo, vườn ươm công nghệ. Hỗ trợ phát triển mạnh doanh nghiệp công nghệ số,

công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ y tế, công nghệ giáo dục, trí tuệ

nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn và các lĩnh vực công nghệ mới có tiềm năng.

- Tiếp tục thực hiện việc cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng tập

trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn có hàm lượng công nghệ và

giá trị gia tăng cao như: công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công

nghiệp số và công nghiệp dữ liệu (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện

toán đám mây, internet vạn vật (IoT…) công nghiệp bán dẫn, công nghệ lượng

tử, công nghệ sinh học - y sinh, công nghệ không gian tầm thấp. Phát triển các

sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo có hàm lượng công nghệ cao.

Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu

công nghệ cao theo hướng hiện đại gắn với lộ trình di dời các cơ sở sản xuất

gây ô nhiễm ra khỏi nội thành để bảo đảm các cơ sở được di dời có đủ điều kiện

tiếp tục hoạt động; đồng thời, gắn với các hành lang, vành đai kinh tế để tăng

cường liên kết hình thành các cụm liên kết ngành và chuỗi giá trị có sức cạnh

tranh, từng bước đạt trình độ tiên tiến của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

- Phát triển mạnh kinh tế đô thị, kinh tế ban đêm, kinh tế sáng tạo; khai

thác hiệu quả các không gian đô thị, không gian văn hóa, thương mại, dịch vụ,

du lịch để mở rộng các hoạt động kinh tế có giá trị gia tăng cao. Tập trung phát

triển các loại hình kinh doanh đêm, hình thành các tuyến phố thương mại - dịch

vụ - văn hóa gắn với không gian sáng tạo, công nghiệp văn hóa, giải trí, ẩm

thực, qua đó nâng cao sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của Thủ đô.

- Cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng chuyển mạnh từ tư duy sản

xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp đô thị; phát triển nông

nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, gắn sản xuất

với chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm. Lấy giá trị

gia tăng, chuỗi giá trị và thị trường làm trung tâm để tổ chức lại sản xuất nông

nghiệp theo hướng liên kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp,

cơ sở chế biến, phân phối và tiêu dùng; hình thành các chuỗi cung ứng nông

sản đáp ứng yêu cầu của thị trường Hà Nội và các thị trường có tiêu chuẩn cao.

- Phát triển kinh tế nông nghiệp kết hợp du lịch sinh thái, du lịch trải

nghiệm; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất đổi mới công nghệ, quản

trị số, thương mại điện tử, dự báo và kết nối thị trường nâng cao năng suất, chất

lượng sản phẩm, hiệu quả kinh doanh và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá

trị; tăng cường hoạt động khuyến công nhằm hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông

thôn ứng dựng công nghệ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu

(RISEP) gắn với xây dựng thương hiệu.

8. Huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực

- Tập trung thu hút các nguồn lực để tăng quy mô và hiệu quả đầu tư,

hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ. Huy động tối đa và sử dụng

hiệu quả các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, trong đó vốn ngân sách trung

ương đóng vai trò định hướng, dẫn dắt, kết hợp với ngân sách thành phố và huy

động xã hội hóa.

- Xây dựng Đề án huy động nguồn lực từ trái phiếu như phát hành, trái

phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị, trái phiếu xanh để đầu tư

xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trọng điểm theo hướng đồng bộ, hiện

đại; ưu tiên đầu tư các công trình giao thông trọng điểm như hệ thống đường

sắt đô thị, giao thông liên vùng, hệ thống giao thông công cộng đồng bộ; hạ

tầng số và hạ tầng phục vụ đổi mới sáng tạo. Đảm bảo tỷ lệ chi cho khoa học

và công nghệ, chuyển đổi số, y tế, giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.

Hà Nội chủ động nghiên cứu, sắp xếp, tổ chức lại, thành lập các quỹ tài chính

nhà nước ngoài ngân sách, đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động theo

hướng đa mục tiêu, đa chức năng, bảo đảm tinh gọn, hiệu quả.

- Thể chế hóa và ban hành các cơ chế, chính sách huy động, sử dụng hiệu

quả các nguồn lực gắn với thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để cho phép

Thủ đô được quyết định cơ chế, chính sách trong một số lĩnh vực để khai thác

hiệu quả mọi nguồn lực, như: Đất đai, đầu tư công, đầu tư kinh doanh, thu hút

đầu tư, các hình thức huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công tư, tài nguyên,

tài sản công… đặc biệt là cơ chế khai thác nguồn lực từ đất đai theo nguyên tắc

điều tiết giá trị gia tăng từ đất gắn liền với quy hoạch hạ tầng giao thông và đô

thị để đầu tư các dự án lớn, trọng điểm, dự án liên kết phát triển vùng, vùng

Thủ đô. Nghiên cứu và báo cáo cấp có thẩm quyền cho phép mở rộng thu hồi

quỹ đất vùng phụ cận nhà ga, các tuyến giao thông mới để tạo nguồn lực tái

đầu tư hạ tầng, nhất là đường sắt đô thị.

- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực

cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) theo hướng minh bạch, bình đẳng, tập trung đẩy mạnh

cải cách thủ tục hành chính, số hóa. Xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng,

minh bạch, ổn định, bình đẳng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp

cận cơ hội phát triển trên địa bàn Thủ đô; lấy mức độ hài lòng của người dân,

doanh nghiệp làm thước đo chất lượng điều hành, hiệu quả phục vụ của các cấp

chính quyền. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số hoạt

động quản lý nhà nước, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tăng cường

liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị.

- Tiếp tục phát triển mạnh các thành phần kinh tế để huy động và sử dụng

hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Kinh tế nhà

nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt; tập trung đẩy nhanh sắp xếp, đổi mới,

nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp

công lập. Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất; tạo mọi điều kiện thuận

lợi tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ và cơ hội đầu tư, kinh doanh; khuyến khích

hình thành các doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh khu vực, gắn với hệ sinh

thái khởi nghiệp sáng tạo. Kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và

các loại hình kinh tế khác tiếp tục giữ vai trò quan trọng; thu hút đầu tư nước

ngoài có chọn lọc, ưu tiên các dự án chiến lược, công nghệ cao, công nghệ sạch,

có khả năng lan tỏa, kết nối chuỗi giá trị toàn cầu và chuyển giao công nghệ.

Tăng cường mở rộng, thu hút nguồn lực đầu tư theo phương thức đối tác công

tư (PPP), nhất là đối với các lĩnh vực hạ tầng đô thị, y tế, giáo dục, văn hóa, thể

thao, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Thành phố nghiên cứu, xây dựng Đề án cơ chế, chính sách đặc thù thu

hút đầu tư vào các ngành công nghệ lõi, công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn;

đồng thời có cơ chế, chính sách vượt trội để thu hút chuyên gia, nhà quản lý

nhà khoa học, chuyên gia giỏi, chuyên gia đầu ngành, nguồn nhân lực chất

lượng cao trong nước và nước ngoài đến làm việc, tham gia với vai trò Tổng

công trình sư, Kiến trúc sư trưởng trong các ngành, nghề lĩnh vực cho sự phát

triển của Thủ đô.

- Đẩy mạnh liên kết “Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp - Tổ

chức tài chính” nhằm gắn kết chặt chẽ, hiệu quả giữa hoạt động quản lý nhà

nước, đào tạo, nghiên cứu, sản xuất kinh doanh và huy động nguồn lực tài chính

qua đó xây dựng hệ sinh thái đào tạo và chuyển giao công nghệ. Thành lập các

trung tâm đào tạo nhân tài chất lượng cao trong các lĩnh vực mũi nhọn như công

nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, tài chính, y tế và quản

trị hiện đại, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường, yêu cầu phát triển của Thủ đô.

- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, ươm tạo, chuyển giao và

thương mại hóa các sản phẩm khoa học, công nghệ có giá trị gia tăng cao để

hình thành các trung tâm chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với

trường đại học, viện nghiên cứu, khu công nghệ cao và doanh nghiệp. Mở rộng

hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào tạo chất lượng cao thông qua liên kết với

các trường đại học, viện nghiên cứu, tập đoàn công nghệ và tổ chức tài chính

quốc tế.

- Phát triển tài sản trí tuệ trở thành nguồn lực quan trọng trong nâng cao

năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hỗ trợ đăng ký,

bảo hộ, khai thác và thương mại hóa các sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu

và kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng cao.

- Đẩy mạnh phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị đô thị,

giáo dục, y tế, giao thông, tài chính và dịch vụ công; ưu tiên đầu tư hạ tầng dữ

liệu, hạ tầng tính toán, nền tảng số và nguồn nhân lực để từng bước hình thành

hệ sinh thái AI của Thủ đô. Đổi mới phương thức đào tạo theo hướng hiện đại,

thực tiễn, gắn với kỹ năng số, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng; chú

trọng phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển

nhanh và bền vững trong giai đoạn mới, tạo nền tảng nhân lực cho phát triển

bền vững Thủ đô.

9. Giữ vững quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; nâng

tầm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế

- Thực hiện tốt quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, kết hợp với phát

triển kinh tế - xã hội của Thủ đô; xây dựng các công trình phòng thủ ngày càng

vững chắc theo quy hoạch, các công trình có tính lưỡng dụng cao đáp ứng thế

trận quân sự khu vực phòng thủ đúng với vị trí chiến lược quan trọng về quốc

phòng, an ninh của thành phố với cả nước, vừa đảm bảo quốc phòng, an ninh,

vừa phục vụ sản xuất kinh doanh.

- Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự trong mọi

tình huống; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô

là nhiệm vụ đặt ra với mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất. Xác định an ninh,

trật tự ở Hà Nội được ổn định là đất nước được ổn định; tuyệt đối không để bị

động, bất ngờ vì sẽ không có cơ hội để khắc phục hậu quả khi xảy ra vụ việc

phức tạp về an ninh trật tự.

- Xây dựng và củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân

dân dựa trên nền tảng sức mạnh vững chắc toàn dân. Giữ vững an ninh chính

trị, trật tự, an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa và đấu tranh nhằm vô hiệu hoá

âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; phát hiện,

tấn công, trấn áp các loại tội phạm, bảo đảm tuyệt đối an toàn các mục tiêu, sự

kiện quan trọng của đất nước, các nguyên thủ, lãnh đạo cấp cao quốc tế, các cơ

quan ngoại giao nước ngoài; các hội nghị quốc tế, doanh nghiệp và công dân

nước ngoài ở Thủ đô Hà Nội. Phát huy ý chí tự lực, tự cường, thế và lực mới

của đất nước đi đôi với tranh thủ hiệu quả các yếu tố quốc tế thuận lợi và nguồn

lực bên ngoài; giữ “trong ấm, ngoài êm”, tạo lực hấp dẫn thu hút mạnh mẽ các

đối tác muốn làm bạn, hợp tác với Việt Nam. Tăng cường quản lý nhà nước về

an ninh trật tự; ứng phó có hiệu quả các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi

truyền thống, nhất là những vấn đề mới như: an ninh dữ liệu, an ninh hạ tầng

thông tin,… Bảo đảm an ninh đô thị, an ninh mạng, an ninh số, an ninh thông

tin truyền thông, an ninh môi trường, an ninh văn hóa, tư tưởng, an ninh tài

chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh

con người.

- Xây dựng lực lượng vũ trang Thủ đô chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ

sức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Thủ đô trong mọi tình huống.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện quản lý

nhà nước chặt chẽ về an ninh trật tự, nhất là bảo đảm trật tự an toàn giao thông,

phòng cháy, chữa cháy,... gắn với không gian quản lý hành chính mới; tăng

cường kết nối, chia sẻ thông tin để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống các

loại tội phạm, nhất là tội phạm mới, tội phạm công nghệ cao, tội phạm có tổ

chức, tội phạm ma túy,...

- Tăng cường đầu tư nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống thiên tai,

cháy nổ, cứu hộ, cứu nạn, thích ứng biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố.

Nghiên cứu và xây dựng giải pháp ứng phó với lũ rừng, xây dựng phương án di

dân, tái định cư phù hợp cho người dân ở các khu vực thường xuyên chịu ảnh

hưởng bởi thiên tai, mưa lũ, ngập lụt,…

- Phát huy tối đa vai trò là Thủ đô với vị thế, lợi thế về vị trí địa chính trị hành chính - kinh tế để tiếp tục nâng cao hoạt động của công tác đối ngoại, chủ

động và tích cực hội nhập quốc tế và hỗ trợ hoạt động đối ngoại của cả nước để

đa dạng hóa đối tác thương mại, khai thác hiệu quả thực thi cam kết trong các Hiệp

định tự do thương mại thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên; tranh thủ cơ hội về

vốn, công nghệ, kiến thức và kỹ năng quản lý để nâng cao năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp và sản phẩm Thủ đô.

- Chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, quảng bá hình ảnh của Thủ

đô và cả nước. Gắn kết các hoạt động đối ngoại với việc thực hiện các định

hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; tích cực tham

gia các sáng kiến liên kết, kết nối với nước láng giềng, các nước trong khu vực

và quốc tế. Tăng cường giao lưu nhân dân, thúc đẩy, triển khai hiệu quả các thỏa

thuận hợp tác đã ký kết với địa phương của các nước; hợp tác chặt chẽ, hiệu quả

với các địa phương trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng và các địa

phương trong cả nước để tăng cường kết nối nội vùng và liên vùng trong phát

triển kinh tế - xã hội. Tăng cường vận động và thu hút các nguồn vốn đầu tư để

thực hiện mục tiêu phát triển bền vững các địa phương trong vùng.

- Tạo thời cơ, tranh thủ mặt thuận lợi để thu hút các nguồn lực bên ngoài

tham gia phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ,

nguồn lực chất lượng cao của đất nước. Tập trung cao độ lực lượng, biện pháp

góp phần giữ vững chính trị, củng cố môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh, kỷ

cương của lực lượng vũ trang, bảo đảm Thủ đô Hà Nội luôn nằm trong nhóm

các Thủ đô hòa bình, an toàn nhất thế giới, tạo nền tảng để phát triển nhanh, bền

vững, tiếp tục nâng cao vị thế đất nước. Đấu tranh, vô hiệu hóa móc nối, kích

động, lôi kéo, biểu tình, các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, vi phạm

pháp luật.

- Phát huy vai trò cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như một nguồn

lực quan trọng cho phát triển Thủ đô trên mọi lĩnh vực về kinh tế, văn hóa. Có

cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để kết nối, thu hút chuyên gia, trí thức,

doanh nhân người Việt Nam, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia

tư vấn chính sách, chuyển giao tri thức, công nghệ, quảng bá hình ảnh Hà Nội là

“Thành phố vì hòa bình”, “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc” điểm

đến hấp dẫn của nhà đầu tư, chuyên gia, khách du lịch, các sự kiện văn hóa, chính

trị, kinh tế và đối ngoại tầm khu vực, quốc tế phục vụ phát triển Thủ đô.

10. Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng

bộ Thủ đô

- Tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị

quyết, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,

Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh

đốn Đảng; đoàn kết, nâng cao năng lực toàn diện các cấp ủy đảng, xây dựng,

chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh, gọn, hiệu

năng, hiệu lực, hiệu quả gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương.

- Thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để gắn với nâng cao hiệu quả

công tác cải cách thủ tục hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính,

xây dựng chính quyền số, xã hội số, đô thị thông minh bảo đảm thực hiện một

cách đồng bộ, thống nhất, xuyên suốt theo 04 trục: Cấp ủy đảng - Hội đồng

nhân dân -Ủy ban nhân dân - Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội.

- Tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thực

hành tiết kiệm từ cơ sở; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý

sau thanh tra, thanh tra trách nhiệm thủ trưởng của các ngành, lĩnh vực; tăng

cường nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền; đề

cao trách nhiệm của người đứng đầu, cá thể hóa trách nhiệm cá nhân gắn với

kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực, tạo động lực thúc đẩy tinh thần đổi

mới sáng tạo

- Xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu “đột phá của đột phá” nhất là đội ngũ

cán bộ chủ chốt, cấp chiến lược có đầy đủ phẩm chất chính trị, năng lực, chuyên

môn, uy tín, nhiệt huyết, tư duy, tầm nhìn đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm

vì lợi ích chung; cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất “Đức - Sức Tài” có trình độ chuyên môn cao, thành thạo ứng dụng khoa học công nghệ,

chuyển đổi số gắn với chế độ đãi ngộ thích hợp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây

dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Triển khai thực hiện có hiệu

quả cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm,

dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

- Tiếp tục đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng

theo hướng “kiến tạo - phục vụ”, kết hợp với khoa học quản trị đô thị hiện đại,

đáp ứng chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, chuyển từ lãnh đạo bằng mệnh lệnh

hành chính sang lãnh đạo hiện đại theo hướng “Đảng bộ số - Chính quyền

kiến tạo - Doanh nghiệp tiên phong - Xã hội đồng thuận”. Phân định rõ chức

năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo phương châm “Đảng lãnh đạo - Nhà nước

quản lý - Nhân dân làm chủ” khoa học, không chồng chéo, rõ thẩm quyền, rõ

việc, rõ trách nhiệm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển Thủ

đô trong kỷ nguyên mới.

- Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp;

đổi mới quản trị chính quyền theo hướng hiện đại, tổ chức bộ máy chính quyền

ở địa phương tinh gọn, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả.

- Tiếp tục đổi mới tư duy, nội dung, phương thức hoạt động và nâng cao

chất lượng, hiệu quả hoạt động, nhất là hoạt động giám sát, phản biện xã hội

của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng,

gắn bó mật thiết với nhân dân và chủ động phục vụ nhân dân. Phát huy khối

đại đoàn kết toàn dân, quyền làm chủ của nhân dân thông qua vận động tạo

đồng thuận trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và

thành phố; bảo đảm nhân dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng thụ hưởng các

thành tựu trong xây dựng và phát triển của thành phố.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ

a) Các bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chủ

động phối hợp thường xuyên với thành phố Hà Nội có cơ chế điều hành tập

trung, cụ thể trong tổ chức thực hiện, trong đó tập trung vào các nội dung sau:

- Xây dựng và ban hành kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nêu

tại Nghị quyết số 02-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ tại

Nghị quyết này hoặc lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch hành động của

các bộ, cơ quan ngang bộ.

- Tăng cường, theo dõi, đôn đốc, kiểm điểm về tình hình triển khai thực

hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ.

b) Phân công nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện:

- Các bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ tại Phụ

lục ban hành tại Nghị quyết này xây dựng và ban hành kế hoạch thực hiện với

tiến độ cụ thể, đảm bảo thời gian hoàn thành và chất lượng các nhiệm vụ được

giao theo đúng quy định của pháp luật; kịp thời xử lý vấn đề phát sinh, đề cao

trách nhiệm người đứng đầu trong việc giám sát, tổ chức thực hiện hiệu quả các

nhiệm vụ được giao.

- Các bộ, ngành khác có liên quan chủ động phối hợp, hỗ trợ thành phố

Hà Nội và các bộ, ngành có liên quan để triển khai thực hiện các nhiệm vụ, đề

án đúng quy định.

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm toàn diện

trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả và tiến độ thực hiện các

nhiệm vụ, đề án dự án được giao tại Nghị quyết này của cơ quan mình.

2. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

- Xây dựng các chương trình, kế hoạch để cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ

tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 02-NQ/TW và Chương trình hành

động của Chính phủ tại Nghị quyết này.

- Chủ động phát triển mối quan hệ liên kết, hợp tác chiến lược với các

tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du

và miền núi phía Bắc và cả nước, đặc biệt là các tỉnh, thành phố lớn trong cả

nước (Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh) để trao

đổi, chia sẻ nguồn lực phát triển bền vững trên các lĩnh vực, khai thác và phát

huy được tiềm năng, lợi thế của nhau cùng phát triển.

- Chỉ đạo việc phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả

Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn

quốc lần thứ XIV của Đảng gắn với các chương trình hành động của Chính phủ.

Chủ động trao đổi, phối hợp làm việc với các bộ, cơ quan trung ương để thực

hiện các nhiệm vụ được giao.

- Định kỳ hằng năm, sơ kết 03 năm và tổng kết 05 năm đánh giá tình

hình thực hiện Nghị quyết này của Chính phủ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ,

đồng gửi Bộ Tài chính để theo dõi và tổng hợp theo quy định.

3. Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhất là tỉnh, thành phố

trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi

phía Bắc chủ động mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ liên kết, hợp tác chiến

lược với thành phố Hà Nội trên tất cả các lĩnh vực. Sự gắn kết này nhằm tạo ra

sức mạnh tổng hợp, khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế bổ trợ lẫn nhau, cùng

kiến tạo không gian phát triển chung bền vững, đóng góp tích cực vào sự lớn

mạnh của vùng và cả nước trong kỷ nguyên mới.

4. Đề nghị các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc phối hợp chặt chẽ với hệ thống cơ

quan hành chính nhà nước các cấp; tăng cường giám sát thực thi công vụ, phản

biện xã hội và đóng góp ý kiến, góp phần tạo đồng thuận trong công tác tổ chức

triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ ban hành kèm Nghị

quyết này.

5. Trong quá trình tổ chức thực hiện, trường hợp phát sinh yêu cầu cần

sửa đổi, bổ sung các nội dung cụ thể thuộc Chương trình hành động của Chính

phủ để phù hợp với tình hình thực tiễn, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban

nhân dân thành phố Hà Nội kịp thời chủ động đề xuất nội dung, gửi Bộ Tài

chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Phụ lục

NHIỆM VỤ, ĐỀ ÁN TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ

(Kèm theo Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 158/NQ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ)

_____________

TT

Nội dung công việc

Công tác quán triệt, tuyên truyền,

phổ biến thông tin và triển khai thực

hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW và

Chương trình hành động của

Chính phủ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô

Luật Thủ đô (sửa đổi)

Xây dựng và ban hành các văn bản

thi hành Luật Thủ đô

Cơ quan chủ trì

thực hiện

Thành phố Hà Nội

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Tư pháp

Thành phố Hà Nội

Cơ quan

phối hợp

Các bộ,

ngành và

cơ quan có

liên quan

Bộ Tài chính,

Bộ Xây dựng

và các bộ,

ngành,

cơ quan có

liên quan

UBND thành

phố Hà Nội

và các bộ,

ngành có

liên quan

Các bộ, cơ

quan có

liên quan

Thời gian

Sản phẩm

Cấp trình

Trong thời gian

thực hiện Nghị

quyết

Các thông tin điện

tử trên website;

chương trình phát

thanh, truyền hình,

bài viết, ấn phẩm;

Hội thảo, hội nghị,

chuyên đề…

Theo quy định

Quyết định của

UBND thành phố

HĐND thành phố

Hà Nội

4/2026

Luật Thủ đô

(Quốc hội đã ban

hành Luật Thủ đô

số 02/2026/QH16

ngày 23/4/2026)

Các văn bản quy

phạm pháp luật thi

hành Luật Thủ đô

Quốc hội

Theo quy định

TT

Nội dung công việc

Tổ chức triển khai thi hành Luật

Thủ đô

Nghiên cứu, đánh giá, phân tích cơ

chế chính sách, kinh nghiệm, cách

làm hay ở trong nước và quốc tế để

có thể vận dụng tại thành phố làm cơ

sở báo cáo cấp có thẩm quyền cho

phép hình thành đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, trung tâm thương

mại và kinh doanh (CBD), khu

thương mại tự do (FTZ) gắn với sân

bay quốc tế Nội Bài, sân bay quốc tế

Gia Bình và tuyến đường sắt tốc độ

cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Thành lập và ban hành Quy chế hoạt

động của Hội đồng điều phối vùng

Thủ đô

Xây dựng, ban hành bộ khung tiêu

chuẩn chung đối với các công trình

hạ tầng liên vùng, giao thông kết

nối, các công trình xử lý ô nhiễm

môi trường, nguồn nước.

Cơ quan chủ trì

thực hiện

Theo Quyết định

số 943/QĐ-TTg

của Thủ tướng

Chính phủ

Cơ quan

phối hợp

Thời gian

Sản phẩm

Cấp trình

Theo Quyết

định số

943/QĐ-TTg

Theo Quyết

định số

943/QĐ-TTg

Báo cáo

Theo quy định

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Tài chính,

Bộ Nội vụ và

các bộ,

ngành, cơ

quan có liên

quan

2026 - 2027

Đề án

HĐND thành phố

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Tài chính

và các bộ,

ngành, cơ

quan có liên

quan

Quyết định

Thủ tướng

Chính phủ

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Xây dựng

và các bộ,

ngành có liên

quan, các địa

phương trong

vùng Thủ đô

2026 - 2027

Quyết định

UBND thành phố

TT

Nội dung công việc

Nghiên cứu và thành lập Quỹ phát

triển vùng Thủ đô trên cơ sở thống

nhất của các địa phương trong vùng

để đầu tư các dự án liên kết, phát

triển vùng Thủ đô

Đề án bảo tồn, phát huy hiệu quả giá

trị các di sản, di tích lịch sử - văn

hóa quốc gia đặc biệt, di tích lịch sử

- văn hóa quốc gia, các công trình

kiến trúc có giá trị văn hóa trên địa

bàn Thủ đô

Cơ quan chủ trì

thực hiện

Cơ quan

phối hợp

Thời gian

Sản phẩm

Cấp trình

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Tài chính

và các bộ

ngành có liên

quan, các địa

phương trong

vùng Thủ đô

2026 - 2027

Nghị quyết HĐND

thành phố, Quyết

định của UBND

thành phố

HĐND thành phố,

UBND thành phố

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Văn hóa,

Thể thao và

Du lịch và

các bộ, ngành

có liên quan

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

Đề án phát triển công nghiệp văn

hóa tại Thủ đô

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Văn hóa,

Thể thao và

Du lịch và

các bộ, ngành

có liên quan

Xây dựng Đề án mô hình tăng

trưởng mới của Thủ đô tạo đột phá

về năng suất, chất lượng tăng trưởng

và sức cạnh tranh

UBND thành phố

Hà Nội

Các bộ,

ngành có

liên quan

Đề án

HĐND thành phố

Đề án xây dựng Thủ đô Hà Nội trở

thành trung tâm khoa học, công

nghệ, đổi mới sáng tạo hàng đầu của

cả nước ngang tầm với các nước

trong khu vực và Châu Á gắn với

các cơ chế, chính sách đặc thù thu

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Khoa học

và Công

nghệ, các bộ

ngành có

liên quan

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

TT

Nội dung công việc

Cơ quan chủ trì

thực hiện

Cơ quan

phối hợp

Thời gian

Sản phẩm

Cấp trình

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

hút đầu tư vào các ngành công nghệ

lõi, công nghệ cao và giá trị gia tăng

lớn trên địa bàn Thủ đô.

Đề án phát triển hạ tầng số Thủ đô

Hà Nội đồng bộ, hiện đại

UBND thành phố

Hà Nội

Đề án phát triển kinh tế số của Thủ

đô

UBND thành phố

Hà Nội

Đề án chương trình phát triển và

ứng dụng các công nghệ chiến lược,

công nghệ lõi

UBND thành phố

Hà Nội

Đề án thí điểm có kiểm soát các mô

hình công nghệ mới, mô hình kinh

tế mới, mô hình quản trị đô thị mới

UBND thành phố

Hà Nội

Đề án chuyển đổi xanh gắn với

chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Khoa học

và Công

nghệ, các bộ

ngành có

liên quan

Bộ Khoa học

và Công

nghệ, các bộ

ngành có

liên quan

Bộ Khoa học

và Công

nghệ, các bộ

ngành có liên

quan

Bộ Khoa học

và Công

nghệ, các bộ

ngành có liên

quan

Bộ Khoa học

và Công

nghệ, các bộ

ngành có

liên quan

TT

Nội dung công việc

Cơ quan chủ trì

thực hiện

Đề án xây dựng Trung tâm tài chính

tại thành phố Hà Nội

UBND thành phố

Hà Nội

Đề án huy động nguồn lực từ trái

phiếu như phát hành, trái phiếu dự

án, trái phiếu công trình, trái phiếu

đô thị, trái phiếu xanh để đầu tư xây

dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

trọng điểm

Đề án xây dựng cơ chế, chính sách

thu hút nhân tài, sử dụng nguồn

nhân lực chất lượng cao nhất là

trong lĩnh vực khoa học, công nghệ

trong và ngoài nước trên thế giới

đến học tập và làm việc cống hiến

cho Thủ đô.

Cơ quan

phối hợp

Bộ Tài chính

và các bộ,

ngành có

liên quan

Thời gian

Sản phẩm

Cấp trình

Trước năm

Đề án

HĐND thành phố

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Tài chính

và các bộ,

ngành có

liên quan

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

UBND thành phố

Hà Nội

Bộ Giáo dục

và Đào tạo,

Bộ Nội vụ và

các bộ,

ngành, cơ

quan có

liên quan

2026 - 2027

Đề án

UBND thành phố

4 điều

Trích dẫn văn bản này

Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triến Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới (Công báo Chính phủ). Truy cập qua LawPlayer, https://lawplayer.com/vn/act/vn-congbao-469817

Nguồn: Công báo điện tử nước CHXHCN Việt Nam (congbao.chinhphu.vn), Văn phòng Chính phủ. Official legal texts are excluded from copyright under Article 8 of the Law on Intellectual Property of Vietnam. 再發布須標示來源(Ghi rõ nguồn 'Công báo điện tử' 條款)。

VN-OfficialText-IPLawExempt

本頁資料來源:vbpl.vn (Bộ Tư pháp)·整理提供:法律人 LawPlayer· lawplayer.com