Điều 12. Xử lý nhà, đất dôi dư trong một số trường hợp đặc biệt
1. Việc xử lý nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính được thực hiện theo quy định tại
Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Nghị định số 186/2025/NĐ-CP (được sửa
đổi, bổ sung bởi Nghị định số 286/2025/NĐ-CP), Nghị định số 52/2026/NĐ-CP và
các quy định tại mục này; không phải thực hiện trình tự, thủ tục sắp xếp lại, xử
lý theo quy định tại Nghị định số 03/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2025
của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 286/2025/NĐ-CP).
Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy
của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính (không bao gồm trường hợp
nhà, đất có tranh chấp hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhà, đất cho mượn, cho
thuê, hợp tác, kinh doanh, liên doanh, liên kết không đúng quy định) thuộc
trường hợp áp dụng chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo quy định
thì trên cơ sở đề xuất của cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà, đất, cơ quan,
người có thẩm quyền quyết định chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo
quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công xem xét, quyết định
chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý theo nguyên trạng; không phải thực
hiện thủ tục lấy ý kiến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Việc chuyển giao theo nguyên trạng được thực hiện đối với cả cơ sở nhà,
đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đầy đủ hoặc mất
hồ sơ pháp lý về nhà, đất, chưa xử lý xong việc lấn chiếm, bố trí làm nhà ở, chưa
xác định đầy đủ ranh giới trên thực địa. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà,
đất có trách nhiệm lập biên bản kiểm kê, mô tả hiện trạng, bàn giao hồ sơ, tài
liệu hiện có và chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin, tài liệu do mình
cung cấp, chịu trách nhiệm về việc không có hoặc mất hồ sơ pháp lý về nhà, đất.
Trên cơ sở Quyết định chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý của cơ
quan, người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà, đất phối hợp
với cơ quan của địa phương được giao nhiệm vụ tiếp nhận lập Biên bản bàn giao,
tiếp nhận, trong đó ghi nhận cụ thể ranh giới, hiện trạng nhà, đất và hồ sơ, giấy
tờ tại thời điểm bàn giao, tiếp nhận. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơ sở nhà, đất
có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng của địa phương để xử lý các vấn
đề liên quan đến cơ sở nhà, đất sau khi đã chuyển giao về địa phương quản lý,
xử lý. Việc xử lý trách nhiệm của các tập thể, cá nhân vi phạm (nếu có) đối với
các cơ sở nhà, đất chuyển giao được thực hiện theo quy định của pháp luật có
liên quan.
Việc xử lý đối với phần diện tích bị lấn chiếm sau khi tiếp nhận được thực
hiện theo quy định tại Điều 139 Luật Đất đai. Việc xử lý đối với các trường hợp
còn lại sau khi tiếp nhận được thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 37 Nghị
định số 186/2025/NĐ-CP.
Trường hợp cơ sở nhà, đất đã có Quyết định chuyển giao về địa phương
quản lý, xử lý mà cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao theo Quyết định chuyển
giao hoặc Văn bản giao nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Ủy ban nhân dân cấp xã mà nay Ủy ban nhân dân
cấp xã có nhu cầu chuyển đổi công năng sang mục đích công cộng (vườn hoa,
sân chơi, điểm sinh hoạt cộng đồng và các mục đích công cộng khác) thì Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc chuyển đổi công năng theo quy định
tại Điều 16 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP, không phải thực hiện thủ tục trình
cấp có thẩm quyền Quyết định giao, điều chuyển cho Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trường hợp có cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực
lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có
nhu cầu sử dụng tạm thời cơ sở nhà, đất đã chuyển giao về địa phương quản lý,
xử lý thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp cơ quan tiếp
nhận tài sản chuyển giao là cơ quan, đơn vị thuộc cấp tỉnh), Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã (trong trường hợp cơ quan tiếp nhận tài sản chuyển giao là cơ
quan, đơn vị thuộc cấp xã) quyết định việc bố trí sử dụng tạm thời cho cơ quan,
tổ chức, đơn vị sử dụng theo quy định về khai thác tài sản có quyết định thu hồi
tại Nghị định số 186/2025/NĐ-CP.
2. Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư chuyển đổi công năng sang mục đích công
cộng (vườn hoa, sân chơi, công trình phục vụ cộng đồng khác), sử dụng làm cơ
sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khu làm
việc chung hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo mà nhà, công
trình gắn liền với đất hiện có không phù hợp với mục đích sử dụng mới thì cơ
quan, người có thẩm quyền quyết định chuyển đổi công năng theo quy định tại
Điều 16 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP chịu trách nhiệm xác định tính phù hợp
của nhà, công trình gắn liền với đất hiện có với mục đích sử dụng mới và quyết
định phá dỡ, hủy bỏ nhà, công trình gắn liền với đất để sử dụng đất theo mục
đích sử dụng mới (không bao gồm trường hợp nhà, công trình gắn liền với đất
được phá dỡ, hủy bỏ theo dự án đầu tư được cơ quan, người có thẩm quyền phê
duyệt hoặc phá dỡ, hủy bỏ do bồi thường, giải phóng mặt bằng); không phải thực
hiện thủ tục báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản.
Việc phá dỡ, hủy bỏ tài sản quy định tại khoản này được thực hiện kể cả
trong trường hợp tài sản vẫn còn khả năng sử dụng, chưa hết thời gian tính khấu
hao/hao mòn theo quy định.
Việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi được từ phá dỡ, hủy bỏ do cơ quan, tổ
chức, đơn vị có nhà, đất (trong trường hợp việc chuyển đổi công năng không
làm thay đổi cơ quan quản lý tài sản) hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận
nhà, đất (trong trường hợp việc chuyển đổi công năng làm thay đổi cơ quan
quản lý tài sản) thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 44 Nghị định số 52/2026/NĐ-CP).
3. Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư thực hiện chuyển đổi công năng để làm
trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp công lập, các mục đích công cộng,
quốc phòng, an ninh thì việc cập nhật, điều chỉnh các chỉ tiêu phân bổ, khoanh
vùng đất đai trong quy hoạch tỉnh đã được phân bổ đến cấp xã, quy hoạch đô
thị và nông thôn, quy hoạch ngành (bao gồm cả quy hoạch sử dụng đất quốc
phòng, an ninh) được thực hiện sau khi thực hiện chuyển đổi công năng theo
quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền.
4. Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư đã có quyết định thu hồi và giao cho tổ
chức phát triển quỹ đất quản lý, khai thác và nhà, đất có quyết định chuyển giao
về địa phương để quản lý, xử lý, sau đó thực hiện giao đất, cho thuê đất theo
quy định của pháp luật về đất đai thì việc xử lý nhà, tài sản gắn liền với đất
được thực hiện như sau:
a) Căn cứ tình hình thực tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong
trường hợp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất thuộc cấp tỉnh), Ủy ban nhân dân
cấp xã (trong trường hợp thẩm quyền giao đất, cho thuê đất thuộc cấp xã) quyết
định việc phá dỡ, hủy bỏ nhà, tài sản gắn liền với đất trước khi thực hiện giao
đất, cho thuê đất.
b) Đối với trường hợp phá dỡ, hủy bỏ nhà, tài sản gắn liền với đất trước
khi giao đất, cho thuê đất thì người được giao đất, cho thuê đất không phải hoàn
trả cho Nhà nước giá trị của nhà, tài sản gắn liền với đất.
Việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi được từ phá dỡ, hủy bỏ do cơ quan tiếp
nhận tài sản chuyển giao thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số
186/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 44 Nghị định số
52/2026/NĐ-CP).
c) Đối với trường hợp không phá dỡ, hủy bỏ nhà, tài sản gắn liền với đất
trước khi giao đất, cho thuê đất thì người được giao đất, cho thuê đất có trách
nhiệm hoàn trả Nhà nước giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất được cơ
quan tiếp nhận tài sản chuyển giao theo dõi, hạch toán tại thời điểm giao đất, cho
thuê đất; nhà, tài sản gắn liền với đất thuộc về người được giao đất, cho thuê đất.
Trường hợp nhà, tài sản gắn liền với đất chưa được theo dõi, hạch toán
trên sổ kế toán hoặc việc tính hao mòn chưa phù hợp thì cơ quan tiếp nhận tài
sản chuyển giao xác định giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất theo
quy định của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản
cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho
doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Trường hợp người được giao đất, cho thuê đất là cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng Cộng
sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội thuộc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ
thì không phải hoàn trả giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất.
5. Đối với nhà, tài sản gắn liền với đất được đầu tư xây dựng trên đất của tổ
chức, cá nhân khác mà tổ chức, cá nhân đó không phải là cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng Cộng
sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội thuộc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (người sử dụng đất được xác định theo quy định
của pháp luật về đất đai khác với cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng nhà,
tài sản gắn liền với đất) mà cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng không
còn nhu cầu sử dụng:
a) Trường hợp tổ chức, cá nhân có đất có nhu cầu tiếp nhận lại nhà, tài sản
gắn liền với đất thì cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản ban hành
Quyết định chuyển giao nhà, tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân có
đất sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trên cơ sở đó, tổ chức thực hiện
việc bàn giao, tiếp nhận tài sản. Tổ chức, cá nhân có đất nhận chuyển giao tài
sản có trách nhiệm hoàn trả cho Nhà nước giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn
liền với đất theo sổ kế toán tại thời điểm quyết định.
Trường hợp nhà, tài sản gắn liền với đất chưa được theo dõi, hạch toán
trên sổ kế toán thì cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản xác định
giá trị còn lại của nhà, tài sản gắn liền với đất theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
về chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức,
đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không
tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
b) Trường hợp tổ chức, cá nhân có đất không có nhu cầu tiếp nhận lại tài
sản thì được thanh lý tài sản theo hình thức phá dỡ, hủy bỏ (bao gồm cả trường
hợp tài sản vẫn còn khả năng sử dụng, chưa hết thời gian tính khấu hao/hao
mòn theo quy định) và bàn giao lại mặt bằng cho tổ chức, cá nhân có đất. Thẩm
quyền, trình tự, thủ tục thực hiện thanh lý và xử lý vật tư, vật liệu thu hồi được
từ phá dỡ, hủy bỏ được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 186/2025/NĐ-CP,
Nghị định số 52/2026/NĐ-CP.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN