Điều 7. Khai, thu, nộp và quyết toán phí
1. Đối với vụ việc phải thu phí thi hành án dân sự nhiều lần thì mỗi lần thu
phí, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thu phí thi hành án
dân sự.
2. Trường hợp toàn bộ tiền, tài sản được thanh toán, giao trong một lần thì
số tiền phí thi hành án dân sự phải nộp được xác định theo mức thu phí tương ứng
với số tiền, giá trị tài sản thực nhận quy định tại Điều 5 Thông tư này trừ (-) số
tiền phí được giảm (nếu có) theo quy định tại Điều 6 Thông tư này.
3. Trường hợp tiền, tài sản được thanh toán, giao thành nhiều lần theo quy
định thì tổng số tiền phí thi hành án dân sự phải nộp của tất cả các lần phải bằng
số tiền phí thi hành án dân sự phải nộp khi nhận toàn bộ số tiền, tài sản trong một
lần. Tổ chức thu phí có trách nhiệm tính số phí thi hành án dân sự phải nộp theo
mức thu phí tương ứng với tổng số tiền, giá trị tài sản mà người nộp phí thực nhận
đến thời điểm tính phí trừ (-) số tiền phí đã nộp trong các lần trước và số tiền phí
được giảm (nếu có).
4. Trường hợp tiền, tài sản được thanh toán, giao thành nhiều lần mà số
tiền, giá trị tài sản được nhận mỗi lần không vượt quá 01 lần mức lương tối
thiểu tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở, nhưng tổng số
tiền, giá trị tài sản lũy kế các lần được nhận lớn hơn 01 lần mức lương tối thiểu
tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở thì thực hiện thu phí
thi hành án dân sự theo quy định và việc thu phí thực hiện theo quy định tại
Điều 5 Thông tư này.
5. Việc thu phí thi hành án dân sự được thực hiện như sau:
a) Trường hợp chi trả bằng tiền mặt, chuyển khoản hoặc gửi qua dịch vụ
bưu chính cho người được nhận tiền thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khấu
trừ hoặc thu số tiền phí thi hành án dân sự phải nộp trước khi chi trả tiền, trừ trường
hợp quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp giao tài sản cho người được nhận tài sản thì cơ quan thi hành
án dân sự thực hiện thu số tiền phí thi hành án dân sự phải nộp trước khi giao tài
sản.
b) Trường hợp người phải thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự thì
cơ quan thi hành án dân sự phải thu phí thi hành án dân sự trước khi thực hiện
thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật số
106/2025/QH15.
c) Trường hợp Tòa án không tuyên giá trị tài sản hoặc có tuyên nhưng tại
thời điểm thu phí, giá trị tài sản thay đổi tăng hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá
trị tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì tổ chức thu phí tổ chức
thẩm định giá, xác định giá tài sản theo quy định tại Điều 82 Luật số
106/2025/QH15 để xác định phí thi hành án dân sự mà đương sự phải nộp.
Trước khi giao tài sản ít nhất 15 ngày, tổ chức thu phí thông báo số tiền phí
thi hành án dân sự mà đương sự phải nộp theo quy định tại Thông tư này.
6. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thực hiện bù trừ nghĩa vụ thi hành
án giữa các đương sự theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP
thì các đương sự phải chịu phí thi hành án dân sự trên số tiền, giá trị tài sản được
nhận trước khi thực hiện bù trừ nghĩa vụ thi hành án.
7. Trường hợp có sự nhầm lẫn về số tiền phí thi hành án dân sự phải nộp thì
tổ chức thu phí có trách nhiệm tính toán lại số tiền phí phải nộp theo quy định và
hoàn trả số tiền phí thu thừa hoặc thu bổ sung số tiền phí còn thiếu.
8. Trường hợp ủy thác thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự ủy thác phải
ghi rõ số tiền phí thi hành án dân sự đã thu, số tiền phí thi hành án dân sự còn phải
thu. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác phải căn cứ vào quyết định ủy thác
để tiếp tục thu phí thi hành án dân sự.
9. Người nộp phí nộp tiền phí thi hành án dân sự vào ngân sách nhà nước
theo hình thức quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 362/2025/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi
hành Luật Phí và lệ phí.
10. Tổ chức thu phí nộp 100% số tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước
theo chương, tiểu mục của Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành, bao gồm tiền
lãi phát sinh (nếu có) trên số dư tài khoản liên quan trong quá trình thu phí. Nguồn
chi phí trang trải cho hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí được ngân sách nhà
nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu phí theo chế độ, định mức chi ngân sách
nhà nước theo quy định của pháp luật. Tổ chức thu phí khai, nộp phí và quyết toán
phí theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 362/2025/NĐ-CP.