Điều 9. Cơ chế, chính sách đặc thù thu hút, sử dụng nhà khoa học,
chuyên gia về hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế
thuộc các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm, chiến lược quốc gia
1. Căn cứ định hướng phát triển ngành, lĩnh vực chiến lược trọng tâm của
quốc gia, địa phương, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh xác định cụ thể các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm trong công tác đối ngoại,
hội nhập quốc tế để áp dụng các chính sách đặc thù nhằm thu hút, sử dụng nhà
khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế, phù hợp với mục tiêu, định hướng
phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, xu hướng phát triển trên thế giới.
2. Nhà khoa học về hội nhập quốc tế là người sử dụng thành thạo ít nhất
một ngoại ngữ ở trình độ tối thiểu tương đương bậc 4 trong khung năng lực
ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định,
có ít nhất 10 năm làm việc trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế hoặc ít nhất
10 năm trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở đào tạo, nghiên cứu,
chương trình, dự án trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế, đồng thời đáp
ứng một trong các điều kiện sau:
a) Có trình độ tiến sĩ trở lên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo có uy tín quốc tế;
b) Là tác giả hoặc đồng tác giả công trình nghiên cứu khoa học đạt
giải thưởng quốc tế hoặc được ứng dụng rộng rãi mang lại hiệu quả thiết thực.
3. Chuyên gia về hội nhập quốc tế là người sử dụng thành thạo ít nhất một
ngoại ngữ ở trình độ tối thiểu tương đương bậc 4 trong khung năng lực
ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định,
đồng thời đáp ứng một trong các điều kiện sau:
a) Đã có ít nhất 10 năm làm việc hoặc đang giữ chức vụ quản lý tại tổ chức
quốc tế, tổ chức khu vực ở trong, ngoài nước, có uy tín về chuyên môn trong lĩnh
vực hội nhập quốc tế;
b) Chủ trì hoặc đồng chủ trì ít nhất 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp
nhà nước về lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được nghiệm thu đạt
kết quả xuất sắc;
c) Giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý từ cấp Thứ trưởng hoặc
tương đương trở lên đang công tác hoặc đã nghỉ hưu; đã trực tiếp chủ trì hoặc tham
gia tham mưu chính sách về hội nhập quốc tế, định hình cơ chế hợp tác, đàm phán,
ký kết thỏa thuận hợp tác cấp quốc gia hoặc giải quyết các vấn đề mang tính
liên quốc gia, liên khu vực trong lĩnh vực phụ trách; hoặc đã từng tham gia dẫn
dắt, định hướng, tham vấn chuyên môn tại các hội nghị, hội thảo khu vực, quốc tế
về lĩnh vực hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế của cơ quan, tổ chức mà cá nhân là
lãnh đạo;
d) Được Chính phủ Việt Nam đề cử và trở thành thành viên của cơ quan,
tổ chức chuyên môn quốc tế;
đ) Được người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh công nhận và bổ nhiệm chức danh chuyên gia về hội nhập quốc tế.
4. Căn cứ nhu cầu thực tiễn, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Hội đồng chức danh chuyên gia để
thẩm định, kiến nghị công nhận chuyên gia về hội nhập quốc tế; quyết định và
chịu trách nhiệm về việc công nhận, bổ nhiệm chức danh chuyên gia về hội nhập
quốc tế và thông báo cho Bộ Ngoại giao danh sách chuyên gia được công nhận.
5. Chính sách đối với nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế là người
Việt Nam:
a) Nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế được quy định tại khoản 2
và điểm a, b, d khoản 3 Điều này nếu trong độ tuổi lao động và có nguyện vọng
công tác lâu dài tại cơ quan, tổ chức trực tiếp, thường xuyên hoạt động trong
lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế thì được xem xét tiếp nhận vào công chức,
viên chức theo pháp luật hiện hành, được hỗ trợ hằng tháng bằng 300% mức
lương theo hệ số lương hiện hưởng và các chính sách khác theo quy định của
pháp luật;
b) Nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế được quy định tại khoản 2
và điểm a, b, c, d khoản 3 Điều này nếu đã quá độ tuổi lao động hoặc trong độ
tuổi lao động nhưng không có nguyện vọng được tiếp nhận vào công chức,
viên chức và nếu cơ quan, tổ chức có nhu cầu thì được xem xét ký hợp đồng
thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức hoặc hợp đồng khoán việc theo
quy định của pháp luật;
c) Thời điểm hưởng hỗ trợ hằng tháng được tính từ khi cấp có thẩm quyền
tiếp nhận nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế vào công chức, viên chức
hoặc công nhận và bổ nhiệm chức danh chuyên gia.
Hằng năm, bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức
đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và kết quả đóng góp của nhà khoa học,
chuyên gia. Việc đánh giá được tiến hành cùng thời điểm với đánh giá, xếp loại
chất lượng công chức, viên chức hằng năm theo quy định của pháp luật. Kết quả
đánh giá là căn cứ để quyết định việc tiếp tục hoặc cho thôi hưởng chế độ hỗ trợ
dành cho nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế.
6. Nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế là công dân nước ngoài
được ưu tiên mời tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu học thuật,
hỗ trợ triển khai các chương trình hợp tác, đào tạo, nghiên cứu học thuật với
nước ngoài trong các lĩnh vực hội nhập quốc tế theo hình thức ký hợp đồng làm
việc với mức tiền công phù hợp theo thỏa thuận và được hưởng các chính sách
khác theo quy định của pháp luật.
7. Trong trường hợp cần thiết và trên cơ sở đồng thuận của cơ quan
trực tiếp quản lý, nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế của các bộ,
cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được Bộ Ngoại giao điều động
tham gia hỗ trợ, phục vụ các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng và
Nhà nước do Bộ Ngoại giao chủ trì hoặc điều phối, hoặc tham gia đào tạo,
giảng dạy về đối ngoại, hội nhập quốc tế.
Chương IV
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC
ĐỐI NGOẠI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ