Điều 1.
Thông qua Đề án Quản lý quỹ nhà biệt thự trên địa bàn thành phố Hà Nội với các nội dung chính như sau:
1. Mục đích, yêu cầu của việc quản lý quỹ nhà biệt thự
- Nhằm quản lý, khai thác có hiệu quả quỹ nhà biệt thự; nâng cao điều kiện sống, đảm bảo an toàn cho người sử dụng, đảm bảo an ninh trật tự; tạo lập nếp sống văn minh đô thị trong các khu nhà biệt thự; duy trì chất lượng, kiến trúc, cảnh quan, vệ sinh, môi trường và cải tạo xây dựng theo quy định.
- Bảo tồn, tôn tạo những biệt thự có giá trị kiến trúc.
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý, sử dụng biệt thự.
- Thực hiện chủ trương của Đảng, nhà nước về tư nhân hóa nhà ở để giảm chi ngân sách cho việc quản lý, sửa chữa biệt thự; việc tổ chức bán nhà biệt thự được quản lý chặt chẽ theo nội dung của Đề án; tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
2. Phạm vi và đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: Trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân được quản lý, sử dụng, sở hữu nhà biệt thự trên địa bàn thành phố thực hiện theo quy định của Đề án này và các quy định có liên quan.
3. Tiêu chí xác định biệt thự không bán
- 42 biệt thự khu trung tâm chính trị Ba Đình (giới hạn bởi phía nam đường Hoàng Hoa Thám, phố Phan Đình Phùng, phía tây đường Hoàng Diệu, phía bắc phố Trần Phú, đường Hùng Vương, đường Lê Hồng Phong, phía bắc phố Đội Cấn, phía đông phố Ngọc Hà và đường dốc Ngọc Hà theo thống nhất giữa UBND thành phố và Bộ Xây dựng tại Tờ trình số 12/TTr-BXD-UBND ngày 06/3/2000 trình Thủ tướng Chính phủ) đã quy định tại Quyết định số 4591/QĐ-UB ngày 07/09/2000 của UBND thành phố về Danh mục Biệt thự không tư nhân hóa (
chi tiết tại Phụ lục số 01
)
.
- Các biệt thự do thành phố quản lý đang cho các doanh nghiệp thuê sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh thì không bán và thực hiện quản lý theo các quy định hiện hành
.
- Biệt thự đang là nhà công vụ; biệt thự cho các cơ quan hành chính, sự nghiệp thuê làm trụ sở; biệt thự có đan xen sử dụng giữa trụ sở cơ quan với các hộ dân, có tỷ lệ phần diện tích sử dụng của cơ quan trên 50% thì không bán, di chuyển các hộ dân để làm trụ sở cơ quan; biệt thự đã có quyết định của cấp có thẩm quyền thu hồi để lập dự án.
- Biệt thự chưa bán có khuôn viên đất thuộc sở hữu nhà nước lớn hơn 500m
2
(năm trăm mét vuông) và diện tích đất bình quân cho mỗi hộ đang sử dụng lớn hơn hạn mức đất ở của khu vực.
- Biệt thự chưa bán có số hộ thuê trọn biển ít hơn 03 hộ và diện tích đất bình quân cho mỗi hộ đang sử dụng lớn hơn hạn mức đất ở của khu vực.
- Biệt thự chưa bán có giá trị về kiến trúc cần bảo tồn, tôn tạo.
Ngoài danh mục 42 biệt thự khu trung tâm chính trị Ba Đình (
chi tiết tại Phụ lục số 01
) và 46 biệt thự do thành phố quản lý đang cho các doanh nghiệp thuê sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh (
chi tiết tại Phụ lục số 02
), đối với những biệt thự còn lại, giao UBND thành phố rà soát, xây dựng danh mục biệt thự không bán và danh mục biệt thự được bán theo các tiêu chí của Đề án để báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
4. Xác định cấp độ, nguyên tắc bảo tồn, tôn tạo
- Cấp độ 1: Đối với các biệt thự có giá trị về kiến trúc, bảo tồn nguyên trạng về không gian và hình dáng kiến trúc công trình, diện tích đất khuôn viên biệt thự, mật độ xây dựng, số hộ sử dụng. Đối với các loại biệt thự này ngoài việc quản lý theo các quy định về nhà ở, đất ở cần thực hiện theo quy định về bảo tồn, tôn tạo.
- Cấp độ 2: Gồm những biệt thự nằm trên các tuyến phố chính trên địa bàn bốn quận nội thành cũ: Phan Đình Phùng, Quán Thánh, Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Đường Thanh Niên, Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Hồng Phong, Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Tràng Thi, Lê Phụng Hiểu, Ngô Quyền, Phan Chu Trinh, Bà Triệu, Hàng Bài, Nguyễn Du (ngoài các biệt thự thuộc cấp độ 1). Đối với các biệt thự này, cho phép cải tạo, sửa chữa nhưng phải đảm bảo các điều kiện về quy hoạch, kiến trúc, mật độ xây dựng, số hộ sử dụng.
- Cấp độ 3: Không cần bảo tồn, tôn tạo đối với những biệt thự còn lại, thực hiện quản lý về sử dụng, cải tạo, sửa chữa theo các quy định hiện hành của nhà nước và thành phố. Giao UBND thành phố xác định danh mục biệt thự cụ thể được bảo tồn, tôn tạo theo các cấp độ khác nhau.
5. Nội dung quản lý quỹ nhà biệt thự
Giao UBND thành phố căn cứ các nội dung và nguyên tắc quản lý quỹ nhà biệt thự đã ghi trong Đề án, có quy định cụ thể về quản lý không gian, kiến trúc; về cải tạo, bảo tồn và xây dựng lại các biệt thự; về xử lý các hành vi vi phạm theo quy định hiện hành và theo đúng các nguyên tắc quản lý quỹ nhà biệt thự trong Đề án kèm theo Tờ trình số 17/TTr-UBND ngày 21/11/2008 do UBND thành phố trình HĐND thành phố khóa XIII tại kỳ họp thứ 17.
6. Bán nhà biệt thự
6.1. Đối tượng mua
Người đang ở thuê hợp pháp nhà biệt thự thuộc sở hữu nhà nước trong danh mục được phép bán trên địa bàn thành phố Hà Nội theo đúng quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ và các quy định của Trung ương có liên quan.
6.2. Giá bán biệt thự
a) Giá nhà: Thực hiện theo Quyết định số 28/QĐ-UB ngày 06/01/1995 của UBND thành phố về giá chuẩn nhà ở xây dựng mới;
b) Giá đất
b.1) Đối với phần diện tích đất ở trong định mức Mức thu 40% giá đất quy định tại Quyết định số 3519/QĐ-UB ngày 12/09/1997 về giá các loại đất và Quyết định số 35/2004/QĐ-UB ngày 12/3/2004 của UBND thành phố về phân loại đường phố trên địa bàn thành phố Hà Nội (gồm cả những đường phố mới đặt tên, mới được đầu tư xây dựng tính tới thời điểm bán) nhân với hệ số K = 2,7;
b.2) Đối với phần diện tích đất ở vượt định mức
Áp dụng mức thu 100% giá đất do UBND thành phố ban hành hàng năm tại thời điểm bán theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 6 khoản 2 Nghị định số
188/2004/NĐ-CP
ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
b.3) Đối với các trường hợp là người có công với cách mạng, thực hiện theo quy định tại Quyết định số
20/2000/QĐ-TTg
ngày 03/02/2000 của
6.3. Phương thức bán; các chế độ miễn, giảm tiền nhà, tiền sử dụng đất khi mua nhà biệt thự thuộc sở hữu nhà nước được thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ và các quy định của Trung ương có liên quan.
6.4. Xử lý chuyển tiếp đối với những hồ sơ mua nhà biệt thự Xác định ngày 25/9/2007 là ngày Nghị quyết số
48/2007/NQ-CP
ngày 30/8/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành, áp dụng cho các trường hợp mua nhà biệt thự như sau:
6.4.1. Nếu đã ký Hợp đồng mua nhà trước ngày 25/9/2007 (trước ngày Nghị quyết số
48/2007/NQ-CP
ngày 30/8/2007 của Chính phủ hiệu lực thi hành): - Đối với phần diện tích đất ở trong định mức: Mức thu 40% giá đất quy định tại Quyết định số 3519/QĐ-UB ngày 12/09/1997 về giá các loại đất và Quyết định số 35/2004/QĐ-UB ngày 12/3/2004 của UBND thành phố về phân loại đường phố trên địa bàn thành phố Hà Nội (gồm cả những đường phố mới đặt tên tính tới thời điểm bán) nhân với hệ số K = 1,8 theo quy định tại Quyết định số 119/2004/QĐ-UB ngày 04/8/2004 của UBND thành phố. - Đối với phần diện tích đất ở vượt định mức: Mức thu 100% giá đất quy định tại Quyết định số 3519/QĐ-UB ngày 12/09/1997 về giá các loại đất và Quyết định số 35/2004/QĐ-UB ngày 12/3/2004 của UBND thành phố về phân loại đường phố trên địa bàn thành phố Hà Nội (gồm cả những đường phố mới đặt tên tính tới thời điểm bán) nhân với hệ số K = 1,8 theo quy định tại Quyết định số 119/2004/QĐ-UB ngày 4/8/2004 của UBND thành phố.
6.4.2. Nếu ký Hợp đồng mua nhà sau ngày 25/9/2007 (sau ngày Nghị quyết số
48/2007/NQ-CP
ngày 30/8/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành):
- Đối với phần diện tích đất ở trong định mức: Mức thu 40% giá đất quy định tại Quyết định số 3519/QĐ-UB ngày 12/09/1997 về giá các loại đất và Quyết định số 35/2004/QĐ-UB ngày 12/3/2004 của UBND thành phố về phân loại đường phố trên địa bàn thành phố Hà Nội (gồm cả những đường phố mới đặt tên tính tới thời điểm bán) nhân với hệ số K = 2,7.
- Đối với phần diện tích đất ở vượt định mức: Mức thu 100% giá đất do UBND thành phố ban hành hàng năm tại thời điểm bán theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.