Điều 16. Ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban hành phải đúng thể thức, đúng đối tượng, đúng thời hạn, đúng thẩm quyền.
2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường thực hiện theo quy định tại Điều 37 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
3. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 42 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Điều 15 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP, cụ thể phải xem xét các yếu tố sau:
a) Các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường có thẩm quyền xử phạt những hành vi vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quy định thẩm quyền cho từng hành vi cụ thể tại các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước;
b) Mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt cho từng hành vi vi phạm hành chính;
c) Thẩm quyền áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (căn cứ giá trị thực tế của tang vật để xác định thẩm quyền).
Xác định trị giá hàng hoá, tang vật vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại; Thông tư số 15/2008/TT-BCT ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện Nghị định số 06/2006/NĐ-CP; Điều 34 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP.
d) Thẩm quyền áp dụng các hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
đ) Thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả;
e) Trong trường hợp mức phạt tiền, trị giá tang vật, phương tiện bị tịch thu hoặc một trong các hình thức xử phạt hoặc biện pháp khắc phục hậu quả không thuộc thẩm quyền hoặc vượt thẩm quyền thì người đang thụ lý vụ việc của quản lý thị trường phải chuyển vụ việc vi phạm đó đến người có thẩm quyền xử phạt.
g) Đối với các vụ việc liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan, trường hợp áp dụng phạt bổ sung vượt thẩm quyền hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật không thuộc thẩm quyền của quản lý thị trường thì chuyển Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền ra quyết định.
4. Việc đóng dấu quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo Điều 31 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP.
5. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 và Điều 23 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP, cụ thể như sau:
a) Đối với vụ việc đơn giản khi kiểm tra đã xác định rõ hành vi vi phạm không cần thẩm tra, xác minh bổ sung chứng cứ, thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày kể từ kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính; đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày. Trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì nguời có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn, thời hạn gia hạn không quá 30 ngày. Thời hạn tối đa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính là 60 ngày làm việc.
b) Trường hợp quá thời hạn quy định tại điểm a khoản này thì không được ra quyết định xử phạt nhưng vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và tịch thu tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành, cấm lưu thông theo quy định của pháp luật.
6. Nội dung Quyết định xử phạt hành chính:
a) Căn cứ ban hành;
b) Họ, tên, chức vụ, đơn vị người ra Quyết định;
c) Họ, tên, nghề nghiệp, địa chỉ người vi phạm (hoặc tên tổ chức, địa chỉ, người đại diện pháp luật của tổ chức đó);
d) Hành vi vi phạm hành chính;
đ) Hình thức xử phạt: hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung (nếu có) các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có) nêu rõ áp dụng điểm, khoản, Điều, Nghị định xử phạt;
e) Hiệu lực thi hành;
g) Thời hạn, nơi thi hành quyết định xử phạt và chữ ký của người ra quyết định xử phạt;
h) Quyền khiếu nại, khởi kiện.