Điều 13.
1. Người nước ngoài muốn vào khu vực nói tại khoản 1, điều 12, Nghị định này, phải có giấy phép của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (riêng đối với các khu vực địa điểm Quốc phòng) . Trường hợp có thoả thuận hoặc ký giữa Chính phủ Việt nam với Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức Quốc tế thuộc Liên hiệp quốc khác với qui định này thì áp dụng theo thoả thuận hoặc ký kết đó.
2. Ngoài trường hợp nói tại khoản 1, điều này, việc đi lại của người nước ngoài thường trú và tạm trú hợp pháp tại Việt Nam không phải xin phép.
3. Trách nhiệm đối với việc đi lại, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam của người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam được qui định như sau:
a) Đối với người nước ngoài vào làm việc với các cơ quan, tổ chức Việt Nam, thì cơ quan, tổ chức Việt Nam phải quản lý chương trình đi lại, hoạt động của khách và thông báo với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.
b) Đối với người nước ngoài vào Việt Nam du lịch, tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế của Việt nam có trách nhiệm đưa đón, hướng dẫn khách theo hành trình du lịch đã bán.
c )Người nước ngoài là thành viên của các cơ quan đại diện ngoại giao, các cơ quan lãnh sự của nước ngoài, các cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế của Liên hiệp quốc, khi đi lại, hoạt động tại Việt Nam theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao, phù hợp với công ước viên và công ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia.
d, Đối với các trường hợp đi lại khác ra khỏi phạm vi nơi đăng ký cư trú, ngoài quy địng tại các điểm a, b, c, khoản 3 điều này thì người nước ngoài phải báo cho chủ khách sạn, nhà trọ, nhà khách hoạc cơ quan, tổ chức tiếp đón mình để biết và thông báo với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.