Điều 10, Nghị định số 114-HĐBT ngày 7-4-1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định: "Các doanh nghiệp sản xuất hàng cần thay thế hàng nhập khẩu được xét giảm thuế doanh thu, thuế lợi tức trong thời gian sản xuất ban đầu".
1. Điều kiện được xét giảm thuế: Được xét giảm thuế cho doanh nghiệp nếu có đủ các điều kiện như sau:
- Mặt hàng sản xuất cần thay thế hàng nhập khẩu nằm trong danh mục quy định trong từng thời kỳ của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước.
- Doanh nghiệp mới bắt đầu sản xuất mặt hàng đó (tính từ thời điểm ngày 7-4-1992 là ngày ban hành Nghị định số 114-HĐBT), bao gồm cả trường hợp trước đây đã sản xuất nhưng gián đoạn (do nghỉ, chuyển đổi mặt hàng...), nay bắt đầu sản xuất lại. Trong trường hợp này thời gian gián đoạn tối thiểu từ 2 (hai) năm trở lên.
- Doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh chế độ sổ sách kế toán quy định; hạch toán đầy đủ, rõ ràng, chính sách mặt hàng thuộc đối tượng được giảm thuế.
Trong những trường hợp đặc biệt về sản xuất hàng cần thay thế hàng nhập khẩu được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố (hoặc Bộ chủ quản) và Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước đề nghị bằng văn bản, Bộ Tài chính có thể xét và giải quyết giảm thuế cho từng trường hợp cụ thể.
2. Mức và thời gian được xét giảm thuế.
a. Về thuế doanh thu
- Mức xét giảm thuế doanh thu không quá 50% (năm mươi phần trăm) số thuế doanh thu phải nộp của mặt hàng được xét.
Thời gian được xét giảm thuế tối đa không quá 1 (một) năm và giới hạn trong khoảng thời gian có hiệu lực của bảng danh mục hàng cần thay thế hàng nhập khẩu do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước ban hành.
Ví dụ: Một mặt hàng của cơ sở X được quyết định giảm thuế doanh thu trong 1 năm, từ 1-7-1992 đến 30-6-1993. Nhưng đến 31-12-1992 (6 tháng sau), Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước thay đổi danh mục hàng cần thay thế hàng nhập khẩu, trong đó mặt hàng của cơ sở X không còn nằm trong danh mục này nữa thì quyết định giảm thuế cũng hết hiệu lực ở ngay thời điểm 31-12-1992. Trường hợp mặt hàng của cơ sở vẫn tiếp tục được đưa vào danh mục hàng cần thay thế hàng nhập khẩu thì quyết định giảm thuế tiếp tục được thực hiện đến hết thời hạn đã xét giảm thuế.
b. Về thuế lợi tức:
Mức xét giảm không quá 50% số thuế lợi tức phải nộp cho mặt hàng là hàng cần thay thế hàng nhập khẩu trong 1 năm, kể từ ngày bắt đầu sản xuất (sau khi đã trừ đi số thuế lợi tức đã được xét giảm trong các trường hợp khác nếu có).
Thời gian giảm thuế cũng giới hạn trong khoảng thời gian có hiệu lực của bảng danh mục hàng cần thay thế hàng nhập khẩu như ví dụ tại phần (a) trên đây.
Trong cả hai trường hợp a, b nêu trên, khi quyết định giảm thuế hết giá trị do danh mục hàng cần thay thế hàng nhập khẩu thay đổi, cơ quan quyết định giảm thuế có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp và doanh nghiệp biết để thi hành.
3. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết:
a. Việc giảm thuế doanh thu:
Đối với đối tượng là doanh nghiệp Nhà nước, hoặc Công ty hay doanh nghiệp tư nhân (thành lập theo Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân) do Bộ Tài chính xét và quyết định cụ thể về tỷ lệ giảm thuế và thời gian giảm thuế.
Đối với các đối tượng khác do Cục thuế tỉnh, thành phố xét và quyết định cụ thể về tỷ lệ giảm thuế và thời gian giảm thuế, theo đề nghị của cơ quan thuế cấp dưới.
Để được xét giảm thuế, doanh nghiệp phải có đơn đề nghị, có kiểm tra, xác nhận của cơ quan thuế trực tiếp quản lý; đối với sản phẩm mới bắt đầu sản xuất, phải xuất trình luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án sản xuất kinh doanh được ngành hay cấp chủ quản duyệt y.
b. Việc giảm thuế lợi tức: do Bộ Tài chính xem xét quyết định cụ thể tỷ lệ giảm thuế và chỉ được xét sau khi đã có báo cáo quyết toán chính thức cả năm gửi cho cơ quan trực tiếp quản lý thu thuế.
III- ĐỐI VỚI GIA CÔNG HÀNG HOÁ CHO NƯỚC NGOÀI
1. Về thuế doanh thu: Gia công hàng hoá cho nước ngoài theo hợp đồng ký kết được vận dụng như sản xuất hàng xuất khẩu và không thu thuế như quy định tại Điều 2 Luật Thuế doanh thu.
2. Về thuế lợi tức: được xét giảm thuế lợi tức như hướng dẫn tại điểm 2 mục I của Thông tư này.
3. Về thuế nhập khẩu:
Vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để gia công hàng hoá cho nước ngoài theo hợp đồng, được xét miễn thuế nhập khẩu như đã hướng dẫn tại phần V, Thông tư số 08-TC/TCT ngày 31-3-1992 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thủ tục gồm:
Hợp đồng gia công (bản gốc hoặc bản sao phải có dấu công chứng) ký với nước ngoài trong đó có ghi rõ phương thức cung cấp nguyên vật liệu, trả hàng, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, số lượng nguyên liệu, vật liệu nhận gia công và thành phẩm phải trả.
- Giấy phép nhập khẩu do Bộ Thương mại và Du lịch cấp, trong đó có ghi rõ hàng hoá nhập khẩu để gia công cho nước ngoài.
- Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu (nếu là hàng nhập khẩu uỷ thác).
Ngoài ra đơn vị nhận gia công hàng hoá cho nước ngoài còn phải lập sổ theo dõi quản lý hàng gia công theo từng hợp đồng cụ thể và đăng ký với Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) theo phụ lục đính kèm Thông tư số 08-TC/TCT ngày 31-3-1992 của Bộ Tài chính.
Thẩm quyền xét miễn thuế nhập khẩu do Bộ Tài chính xét và quyết định cho từng trường hợp cụ thể. Mọi trường hợp nhập khẩu vật tư, nguyên liệu đã được miễn thuế, nhưng đem chuyển nhượng hoặc sử dụng vào mục đích khác đều phải khai báo với cơ quan Hải quan và truy nộp thuế nhập khẩu.
IV- ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ TRẢ NỢ CHO NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ
Được miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại Điều 10, khoản 5 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Thủ tục xét miễn đã hướng dẫn trong Thông tư số 08-TC/TCT ngày 31-3-1992 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, gồm:
- Văn bản giao nhiệm vụ trả nợ của Bộ Thương mại và Du lịch có ghi rõ tên doanh nghiệp, mặt hàng, số lượng hàng xuất khẩu và tên nước thu nợ.
- Giấy phép xuất khẩu do Bộ Thương mại và Du lịch cấp có ghi rõ: hàng trả nợ của Chính phủ.
- Văn bản của Hội đồng Bộ trưởng hoặc Bộ Tài chính duyệt cấp vốn mua hàng xuất khẩu trả nợ nước ngoài của Chính phủ.
Cơ quan Hải quan căn cứ vào các quy định trên làm thủ tục miễn thuế.
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 7-4-1992, thay thế Thông tư số 44-TC/TCT ngày 14-8-1991 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Quyết định số 96-HĐBT ngày 5-4-1991 của Hội đồng Bộ trưởng và áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì áp dụng theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư.
Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh khó khăn vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời để Bộ Tài chính nghiên cứu giải quyết.
Phan Văn Dĩnh (Đã Ký)