BỘ TÀI CHÍNH, UỶ BAN VẬT GIÁ NHÀ NƯỚC
Số : 04/VNN-TC/TT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - tự do - hạnh phúc
------------------------------
Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 1998
THÔNG TƯ LIÊN BỘ
HƯỚNG DẪN VIỆC CHIẾT KHẤU LƯU THÔNG VẬT TƯ
Thi hành chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng trong công văn số 6541-V13 ngày 21 tháng 12 năm 1985 về việc xác định chiết khấu lưu thông vật tư, Liên Bộ Uỷ ban Vật giá Nhà nước - Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện như sau:
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1/ Việc xác định chiết khấu lưu thông vật tư mới phải quán triệt tinh thần Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá V là xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Trước hết là xắp xếp và tổ chức lại mạng lưới kinh doanh vật tư, kiên quyết loại trừ các khâu trung gian không cần thiết trong quá trình bảo quản , vận chuyển; thực hiện các định mức kinh tế-kỹ thuật đã đạt được trong thời kỳ kinh doanh vật tư tương đối ổn định trước đây.
2/ Chiết khấu lưu thông vật tư phải đảm bảo bù đắp chi phí lưu thông thực tế hợp lý và có lãi thoả đáng cho cơ sở kinh doanh vật tư. Chiết khấu lưu thông vật tư không được tính những chi phí bất hợp lý, bất hợp lệ và không được làm đội giá bán buôn vật tư mới được Nhà nước ban hành. Trường hợp đội giá bán buôn vật tư thì cơ quan kinh doanh vật tư cần phải lập tờ trình, đề xuất hướng giải quyết, gửi cấp có thẩm quyền quyết định.
3/ chiết khấu lưu thông vật tư mới được xác định cho tất cả các công ty, Tổng công ty kinh doanh vật tư thông dụng và chuyên dụng thuộc Bộ vật tư, các Bộ, Tổng cục quản lý sản xuất kinh doanh (bao gồm cả công ty vật tư thuộc Cục chuyên gia và Liên hiệp xã tiểu thủ công nghiệp trung ương)
Đối với các công ty vật tư trực thuộc địa phương do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) chỉ đạo xây dựng và xét duyệt theo sự hướng dẫn của trung ương về nguyên tắc, phương pháp, tính và mức chiết khấu tiêu chuẩn.
II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CHIẾT KHẤU LƯU THÔNG VẬT TƯ
Việc xác định chiết khấu lưu thông ,vật tư mới phải căn cứ vào những văn bản của Hội đồng Bộ Trưởng về cải tiến kinh tế mới ban hành (Nghị định số 190-HĐBT ngày 27-6-1985 Nghị định số 156 - HĐBT ngày 30-11-1984, Quyết định số 285-HĐBT ngày 23-12-1985, ...) vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước năm 1986 và các hợp đồng kinh tế đã thoả thuận và ký kết. Chiết khấu lưu thông vật tư bao gồm phí lưu thông và lãi định mức sau đây là nội dung và phương pháp xác định một số chỉ tiêu và khoản mục chi phí chủ yếu:
1/Doanh số bán ra:
- Về lượng được xác định căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước năm 1986 và các hợp đồng kinh tế đã ký kết.
- Về giá được tính theo hệ thống giá vật tư của Nhà nước mới ban hành (quyết định số 245 HDBT-ngày 20-9-1985, quyết định số 237 HDBT ngày 4-12-1985, quyết định số 352/VGNN -BB ngày 30-9-1985 của Uỷ ban Vật giá Nhà nước và các quyết định do các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành theo điều lệ quản lý giá ).
Trong doanh số bán ra cần phân tích:
+ Doanh số bán vật tư trong kế hoạch do Nhà nước cung ứng
+ Doanh số bán vật tư do cơ sở liên doanh liên kết (nếu có)
+ Doanh số bán vật tư kinh doanh (nếu có)
2/ Chi phí lưu thông
Hiện nay chiết khấu lưu thông vật tư được quy định cho từng ngành hàng, mặt hàng cụ thể, nhưng chi phí lưu thông thì lại được hạch toán tổng hợp theo đơn vị hạch toán kinh tế. Do đó, để tính được định mức chiết khấu cho từng ngành hàng, mặt hàng được chính xác cần phải phân bổ chi phí lưu thông cho từng nhóm hàng, mặt hàng một cách có căn cứ hợp lý.
a) Chi phí vận chuyển
- Xác định kế hoạch vận chuyển vật tư hợp lý trên cơ sở;
+ Lựa chọn con đường vận chuyển hợp lý
+ Lựa chọn phương thức vận chuyển hợp lý (tăng vận chuyển thẳng)
+ Lựa chọn phương tiện vận tải hợp lý(lợi dụng tố đa loại phương tiện rẻ tiền)
Trên cơ sở đó mà xác định cự ly vận chuyển của những loại vật tư chủ yếu phù hợp với sự vật tư do Nhà nước quy định về địa điểm giao nhận.
- Thống nhất xác định cước vận chuyển và cước bốc xếp bình quân trên cơ sở bảng giá cụ thể do Uỷ ban Vật giá Nhà nước, các Bộ, Các uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành.
- Xác định tỷ lệ cước khống một cách đúng đắn đối với từng ngành hàng, nhóm hàng.
b) Chi phí tiền lương:
Trên cơ sở sắp xếp, bố trí lại mạng lưới kinh doanh vật tư, xác định số lao động cần thiết hợp lý cho năm 1986 để tính quỹ lương. Mức lương (được tính theo chế độ tiền lương mới do nhà nước ban hành (nghị định 235 – HDBT ngày 18-9-1985, chỉ thị số 85/CT ngày 1/3/1985 của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng và các thông tư hướng dẫn thực hiện của Bộ Lao động). Trên cơ sở đó mà:
- Xác định mức lao động hợp lý trên 1000 đ doanh số trên số tán hàng bán ra của từng ngành hàng
- Xác định tỷ lệ lao động gián tiếp, trực tiếp
- Xác định đơn giá tiền lương
Việc phân bổ tiền lương cho những loại vật tư chủ yếu (hoặc nhóm vật tư ) cần phải chú ý kết hợp một cách đúng đắn giữa 2 yếu tố: đặc điểm (tự nhiên) của vật tư và doanh số (giá trị).
c) Chi phí khấu hao tài sản cố định
Giá trị tài sản cố định làm căn cứ để tính khấu hao được xác định phân biệt:
- Tài sản cố định có trước ngày 1-10-1985 được tính theo sự hướng dẫn của Ban chỉ đạo Tổng kiểm kê và đánh giá lại tài sản cố định trung ương. Nếu chưa có hướng dẫn thì tạm thời thực hiện theo thông tư Liên Bộ số 22/TT-LB ngày 4-10-1985 của Uỷ ban Vật giá Nhà nước Bộ Tài chính – Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
- Tài sản cố định do đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành sau ngày 1-10-1985 tính theo sự hướng dẫn trong thông tư số 36/TC-ĐT ngày 10-10-1985 của Bộ Tài chính.
- Tài sản cố định mua sắm sau 1-10-1985 thì tính theo giá bán buôn vật tư quy định tại quyết định số 245/HDBT ngày 20-9-2985, quyết định số 237/HDBT ngày 4-12-1985 của Hội đồng Bộ Trưởng và quyết định số 352 /VGNN-BB ngày 30-9-1985 của Uỷ ban Vật giá Nhà nước và các quyết định do các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành như đã nêu trên.
Tỷ lệ khấu hao: Trước mắt tạm thời xác định theo tinh thần quyết định số 215/TC-TDTC ngày 2-10-1980 của Bộ Tài chính.
b) Phí lãi vay ngân hàng
Trên cơ sở kế hoạch lưu chuyển vật tư xác định định mức dự trữ hợp lý cho từng ngành hàng để xác định mức vốn vay trong định mức (đã trừ phần vốn lưu động tự có và coi như tự có tham gia dự trữ hàng hoá vật tư)
Tỷ lệ lãi vay ngân hàng tính theo chế độ hiện hành, khi có thay đổi của Nhà nước, sẽ có hướng dẫn sau.
Phần lãi về tiền gửi của đơn vị được trừ vào phần lãi phải trả. Số còn lại được phân bổ cho các nhóm, mặt hàng. Tiêu thức phân bổ khoản mục phí này chủ yếu là căn cứ vào doanh số của từng nhóm, mặt hàng có xem xét đến nhu cầu dự trữ, tốc độ tiêu thụ,...
e) Chi phí hao hụt
Tinh thần chung của việc xác định hao hụt vật tư là chỉ tính cho những loại vật tư thực sự có hao hụt (do tính chất thương phẩm của vật tư đó quyết định) và theo định mức hao hụt do Nhà nước có tính đến những biện pháp mới, điều kiện bảo quản mới,... để phấn đấu hạ thấp tỷ lệ hao hụt; Nếu Nhà nước chưa quy định định mức hao hụt thì tham khảo tỷ lệ hao hụt trong những năm qua, đề nghị mức cụ thể trong phương án chiết khấu.
g) Chi phí quản lý hành chính
Đây là một trong những trọng điểm quản lý phí, vì vậy phải trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới kinh doanh thực hiện dúng các định mức chi phí hội nghị, tiếp khách và các chi phí khác do Nhà nước đã ban hành.
Chi phí quản lý hành chính là khoản phí tương đối tổng hợp và phức tạp, khi phân bổ phí cho từng nhóm mặt hàng phải kết hợp các yếu tố để tìm ra các tiêu thức phân bổ hợp lý.
3/ Lợi nhuận định mức
Lợi nhuận định mức được tính bằng 1% đến 5% trên doanh số bán ra tuỳ theo ngành hàng như quy định trong Nghị định số 190/HDBT ngày 27-6-1985 của Hội đồng Bộ Trưởng.
Căn cứ vào khung trên và hướng dẫn của Bộ Tài chính các đơn vị kinh doanh, hoặc các cơ quan chủ quản kiến nghị các mức cụ thể cho từng ngành hàng, nhóm hàng công ty kinh doanh trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt cùng với kiến nghị về mức chiết khấu.
Nội dung của lợi nhuận định mức trước mặt tạm thời quy định như sau:
- 50% để lại cho cơ sở trích lập 3 quỹ
- 50% nộp lại ngân sách Nhà nước
Lợi nhuận để lại cho cơ sở trích lập 3 quỹ được xác định như sau:
- Quỹ khen thưởng bằng 1 tháng lương cơ bản bình quân năm của cán bộ, công nhân viên đơn vị.
- Quỹ phúc lợi bằng 1 tháng lương cơ bản (như trên)
- Quý khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh bằng 1% tổng số vốn kinh doanh (nguyên giá tài sản cố định và vốn lưu động định mức )
Nếu tính đến lợi nhuận định mức theo nguyên tắc trên, sau khi Bộ chủ quản tổng hợp lại toàn ngành hàng, nhóm hàng, mà lợi nhuận định mức từ khâu mua (nhập khẩu hoặc của sản xuất trong nước) đến nơi tiêu dùng cuối cùng lớn hơn 1.5% thì cần điều chỉnh lại lợi nhuận định mức từng khâu sao cho lợi nhuận định mức toàn ngành của nhóm hàng, mặt hàng không vượt quá 1.5%
III. TRÌNH TỰ LẬP, XÉT DUYỆT VÀ CÔNG BỐ CHIẾT KHẤU
1/ Phương pháp chiết khấu lưu thông vật tư toàn ngành và chiết khấu lưu thông một số loại vật tư quan trọng (hoặc nhóm hàng) thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng Bộ Trưởng do các Tổng công ty (hoặc công ty) vật tư xây dựng. Bộ chủ quản xem xét và tổng hợp và cần tranh thủ ý kiến uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộ Tài chính trước khi trình Hội đồng Bộ Trưởng quyết định.
Phương án chiết khấu có nhiều ý kiến khác nhau, xét thấy cần đưa ra thảo luận trong hội đồng Vật giá của Chính phủ do Uỷ ban Vật giá Nhà nước đề xuất . Nếu các thành viên của hội đồng Vật giá vẫn còn có ý kiến khác nhau thì Uỷ ban Vật giá Nhà nước báo cáo Hội đồng Bộ Trưởng quyết định.
Trên cơ sở mức chiết khấu do Hội đồng Bộ Trưởng quyết định, Bộ chủ quản (với sự tham gia của Uỷ ban Vật giá Nhà nước và Bộ Tài chính ) quyết định mức chiết khấu lưu thông vật tư cho các cấp, hoặc cho từng nhóm hàng, mặt hàng cụ thể nhưng phải đảm bảo cho chiết khấu lưu thông vật tư từ sản xuất (hoặc nhập khẩu ) đến tiêu dùng không vượt quá mức chiết khấu đã được Hội đồng Bộ Trưởng quyết định
2/ Phương án chiết khấu lưu thông vật tư do Uỷ ban Vật giá Nhà nước cùng Bộ Tài chính được Hội đồng Bộ Trưởng uỷ quyền quyết định, do các Tổng công ty (hoặc công ty) vật tư xây dựng, gửi cơ quan chủ quản, đồng gửi Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộ Tài chính. Cơ quan chủ quản có ý kiến kịp thời để các Tổng công ty (hoặc công ty) vật tư bảo vệ phương án chiết khấu trước cơ quan duyệt chiết khấu.
Nếu cơ quan chủ quản không thống nhất với mức chiết khấu do Tổng công ty (hoặc công ty) vật tư kiến nghị thì Tổng công ty (hoặc công ty) vật tư phải báo cáo rõ các ý kiến khác nhau để cơ quan duyệt chiết khấu xem xét lại quyết định.
Uỷ ban Vật giá Nhà nước và Bộ Tài chính quyết định chiết khấu sau khi trao đổi với Tổng công ty (hoặc công ty) và Bộ chủ quản.
Bộ chủ quản căn cứ vào mức chiết khấu lưu thông vật tư do Uỷ ban Vật giá Nhà nước cùng Bộ Tài chính quyết định để quyết định mức chiết khấu lưu thông vật tư cho các cấp hoặc cho từng nhóm hàng, mặt hàng cụ thể; nhưng phải đảm bảo cho chiết khấu lưu thông vật tư từ sản xuất (hoặc nhập khẩu) đến tiêu dùng không vượt quá mức chiết khấu do Uỷ ban Vật giá Nhà nước cùng Bộ Tài chính quyết định như đã nêu trong điểm 1 mục III trong thông tư hướng dẫn này.
Các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần chỉ đạo các Tổng công ty (hoặc công ty) vật tư xây dựng chiết khấu lưu thông của đơn vị mình và tổng hợp (nếu cần tổng hợp) trình cấp có thẩm quyền quyết định trong quý II-1986.
Trong quá trình xây dựng chiết khấu, các Tổng công ty (hoặc công ty) vật tư , cơ quan chủ quản cần phối hợp với cơ quan Vật giá, Tài chính cùng cấp để các cơ quan này có căn cứ tham gia với cơ quan duyệt chiết khấu.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
KT/ BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG
Hồ Tế
KT. CHỦ NHIỆM UỶ BAN VẬT GIÁ NHÀ NƯỚC
PHÓ CHỦ NHIỆM UỶ BAN VẬT GIÁ NHÀ NƯỚC
Trần Xuân giá
Số /VGNN-VP
Nơi nhận:
- Văn phòng HDBT(để b/c)
- Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác trực thuộc Hội đồng Bộ Trưởng
-Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đặc khu trực thuộc trung ương.