Điều 3. Chế độ thanh toán công tác phí
1. Thanh toán tiền tàu xe
a) Đối với tiền vé tàu, xe người đi công tác được thanh toán theo giá cước thông thường bằng các phương tiện giao thông công cộng (giá không bao gồm các dịch vụ khác) bao gồm: Tiền mua vé tàu, xe, cước qua phà, đò ngang và cước chuyên chở tài liệu phục vụ cho chuyến đi công tác mà người đi công tác trực tiếp chi trả.
b) Trường hợp người đi công tác tự túc phương tiện đi công tác thì được thanh toán tiền tàu, xe theo giá cước của phương tiện giao thông công cộng cho đoạn đường thực đi.
c) Trường hợp người đi công tác bằng phương tiện của cơ quan thì không được thanh toán tiền tàu, xe.
d) Trường hợp thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện đi công tác: Thực hiện theo quy định tại điểm 8, mục I Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007 của Bộ Tài chính.
e) Trường hợp người đi công tác bằng phương tiện máy bay phải được Thủ trưởng đơn vị cử đi công tác phê duyệt căn cứ vào qui chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, tính chất công việc của chuyến đi công tác, trong phạm vi nguồn kinh phí được giao bảo đảm theo nguyên tắc: đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
f) Tiêu chuẩn mua vé máy bay như sau:
- Cán bộ có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 1,3 trở lên được thanh toán vé máy bay hạng ghế thương gia.
- Các đối tượng còn lại được thanh toán mua vé máy bay hạng ghế thường.
2. Phụ cấp lưu trú.
a) Người đi công tác ngoài tỉnh được thanh toán phụ cấp: 70.000 đồng/ngày/người.
b) Trường hợp đi công tác ngoài tỉnh (đi và về trong ngày), Thủ trưởng đơn vị quyết định mức chi cụ thể cho phù hợp nhưng không quá 50.000 đồng/người/ngày và phải được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
3. Thanh toán tiền thuê phòng nghỉ khi đi công tác ngoài tỉnh
a) Người được cơ quan, đơn vị cử đi công tác được thanh toán tiền thuê chỗ nghỉ theo phương thức thanh toán khoán các mức như sau:
- Đi công tác ở quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh: Mức tối đa không quá 150.000 đồng/ngày/người;
- Đi công tác ở quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương: Mức tối đa không quá 140.000 đồng/ngày/người;
- Đi công tác tại huyện thuộc các thành phố trực thuộc trung ương, tại thành phố, thị xã thuộc tỉnh: Mức tối đa không quá 120.000 đồng/ngày/người;
- Đi công tác tại các vùng còn lại: Mức tối đa không quá 100.000 đồng/ngày/người.
b) Trường hợp mức khoán nêu trên không đủ để thuê chỗ nghỉ thì người đi công tác được thanh toán theo hoá đơn thực tế với mức:
- Đối với cán bộ lãnh đạo là Bí thư Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, mức thuê phòng không vượt quá 400.000 đồng/ngày/phòng.
- Đối với cán bộ lãnh đạo là Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và các chức danh tương đương, mức thuê phòng không vượt quá 350.000 đồng/ngày/phòng.
- Đối với cán bộ còn lại được thanh toán mức thuê phòng không vượt quá 300.000 đồng/ngày/phòng 02 người; trường hợp đi công tác một mình hoặc đoàn công tác có lẻ người hoặc người khác giới thì được thanh toán theo mức thuê phòng không vượt quá 300.000 đồng/ngày/phòng.
c) Chứng từ làm căn cứ thanh toán khoán tiền thuê chỗ nghỉ là giấy đi đường có ký duyệt đóng dấu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị cử cán bộ đi công tác và ký xác nhận đóng dấu ngày đến, ngày đi của cơ quan nơi cán bộ đến công tác và hoá đơn hợp pháp trong trường hợp thanh toán theo giá thuê phòng thực tế.
4. Trường hợp đi công tác theo đoàn công tác liên ngành, liên cơ quan
Nếu tổ chức đi theo đoàn tập trung thì cơ quan, đơn vị chủ trì đoàn công tác chịu trách nhiệm chi tiền tàu xe đi lại và cước hành lý, tài liệu mang theo để làm việc (nếu có) cho người đi công tác trong đoàn; nếu không đi tập trung theo đoàn mà người đi công tác tự đi đến nơi công tác thì cơ quan, đơn vị cử người đi công tác thanh toán tiền tàu xe đi lại và cước hành lý, tài liệu mang theo để làm việc (nếu có) cho người đi công tác;
Cơ quan, đơn vị cử người đi công tác có trách nhiệm thanh toán tiền phụ cấp lưu trú, tiền thuê chỗ ở cho người thuộc cơ quan mình cử đi công tác.