Điều 2. Một số nhiệm vụ chủ yếu trên các lĩnh vực
1. Phát triển đồng bộ khai thác và nuôi trồng thủy hải sản
a) Tiếp tục rà soát, bổ sung Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/2013/NQ-HĐND ngày 18 tháng 12 năm 2013 của HĐND tỉnh gắn với thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản và Nghị định số 89/2015/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP và các chính sách hỗ trợ khác; khuyến khích ngư dân đầu tư tàu thuyền công suất lớn, trang thiết bị hiện đại vươn khơi, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu ngành khai thác hải sản theo hướng nâng cao hiệu quả, bền vững gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
b) Củng cố và phát triển các mô hình dịch vụ khai thác trên biển theo hướng khuyến khích các thành phần kinh tế thành lập các đội tàu cung ứng dịch vụ hậu cần, thu mua sản phẩm khai thác xa bờ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hải sản cho ngư dân. Phấn đấu đến năm 2020, tổng số tàu thuyền khoảng 2.900 chiếc/380.000 CV; sản lượng khai thác đạt 70 - 75 nghìn tấn, trong đó khai thác xa bờ chiếm 65 - 70%.
c) Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, trọng tâm là đầu tư nâng cấp, mở rộng các cảng cá Mỹ Tân, Đông Hải, Ninh Chữ, Cà Ná thành các trung tâm thương mại nghề cá, kết hợp làm nơi tránh trú bão cho tàu thuyền, quy mô mỗi cảng từ 500 - 1.000 chiếc và tiếp nhận tàu có công suất từ 500 - 1.000CV
d) Tập trung triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ cao vào sản xuất. Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương xây dựng Ninh Thuận thành trung tâm tôm giống chất lượng cao của cả nước, trong đó, chú trọng tăng cường công tác quản lý nguồn gốc và chất lượng giống. Huy động các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu các vùng nuôi tôm công nghiệp tập trung An Hải, Sơn Hải, Nhơn Hải theo quy hoạch; hình thành các vùng nuôi tôm tập trung quy mô lớn đạt tiêu chuẩn GAP, tạo nguồn nguyên liệu chủ lực cho công nghiệp chế biến. Khai thác và bảo vệ hiệu quả tính đa dạng sinh học đối với các đối tượng nuôi vùng Đầm Nại để vừa khai thác bền vững, vừa phát triển du lịch và đô thị ven biển theo quy hoạch.
Phấn đấu đến năm 2020, diện tích nuôi trồng thủy hải sản đạt 2.400 - 2.500 ha, trong đó diện tích nuôi tôm khu vực Đầm Nại, An Hải, Sơn Hải, Từ Thiện khoảng 1.000 ha; tổng sản lượng nuôi trồng thủy hải sản đạt 18 - 20 nghìn tấn; sản lượng tôm post trên 36 tỷ con. Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản chiếm 46 - 47% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.
2. Tăng cường đầu tư phát triển du lịch biển
a) Tập trung ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu du lịch trọng điểm và các vùng có tiềm năng phát triển du lịch biển, nhất là các khu vực Bình Tiên - Vĩnh Hy, Bình Sơn - Ninh Chữ, Hòn Đỏ, Đầm Nại, Mũi Dinh, Cà Ná để sớm hình thành các khu du lịch có đẳng cấp, tạo động lực phát triển nhanh ngành du lịch của tỉnh. Ưu tiên nguồn lực Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, nước. Trước mắt tập trung đầu tư nâng cấp các tuyến đường kết nối đường ven biển với Quốc lộ 1A, đường vào các khu du lịch biển, hoàn thành đầu tư đường đi bộ ven biển Bình Sơn - Ninh Chữ, hạ tầng kỹ thuật khu du lịch Vĩnh Hy, Đầm Nại, …
b) Tập trung huy động mọi nguồn lực, thu hút các nhà đầu tư có uy tín tham gia các dự án du lịch quy mô lớn, chất lượng cao, từng bước hình thành các trung tâm du lịch ven biển đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án du lịch biển trọng điểm theo quy hoạch nhằm hình thành và phát triển các tour, tuyến du lịch nội địa và quốc tế.
c) Chú trọng đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù, độc đáo, tạo điểm nhấn riêng biệt, có khả năng cạnh tranh để thu hút du khách trong và ngoài nước như: du lịch văn hóa gắn với các lễ hội truyền thống và ẩm thực vùng biển; du lịch sinh thái rừng ven biển Núi Chúa; du lịch gắn với tham quan, nghiên cứu hệ sinh thái san hô Ninh Thuận; du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, chăm sóc sức khoẻ từ nguyên liệu đặc thù của địa phương; du lịch gắn với các môn thể thao lướt sóng, thuyền buồm, đua mô tô trên cát…
d) Kêu gọi đầu tư xây dựng các cảng chuyên dùng phục vụ du lịch biển Bình Tiên - Vĩnh Hy, Bình Sơn - Ninh Chữ, Mũi Dinh. Khuyến khích mở rộng, nâng cấp hạng sao các cơ sở lưu trú hiện có; phấn đấu đến năm 2020 đón trên 2,4 triệu lượt du khách, trong đó khách quốc tế chiếm trên 10%.
3. Phát triển công nghiệp biển và ven biển
a) Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các loại quy hoạch đảm bảo thống nhất, đồng bộ và phù hợp với tình hình thực tiễn. Tập trung kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư có năng lực, đầu tư kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Cà Ná, gắn với đầu tư xây dựng cảng biển quốc tế Cà Ná, cảng hàng hóa Ninh Chữ, cụm công nghiệp Tri Hải, nhằm hình thành các trung tâm công nghiệp ven biển của tỉnh.
b) Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án công nghiệp ven biển đã được cấp phép đầu tư; tập trung phát triển ngành năng lượng tái tạo gồm điện gió, điện mặt trời khu vực ven biển theo quy hoạch. Ưu tiên thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn, có công nghệ tiên tiến, để tạo đột phá phát triển các ngành công nghiệp biển và ven biển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp chế biến thủy sản, công nghiệp sản xuất muối và sản phẩm sau muối, công nghiệp phụ trợ; công nghiệp đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, hệ thống kho tàng, bến bãi, cung ứng vật tư kỹ thuật phục vụ vận tải biển và đánh bắt hải sản, … đảm bảo các yêu cầu về môi trường sinh thái biển và ven biển.
c) Tiếp tục phát huy năng lực sản xuất các sản phẩm chủ lực hiện có, tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Hỗ trợ phát triển các làng nghề chế biến thủy sản; khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ các cơ sở sản xuất, chế biến hiện có tại các làng nghề ven biển Cà Ná, Đông Hải, Khánh Hải, Mỹ Tân…, chú trọng xây dựng thương hiệu các làng nghề.
Phấn đấu đến năm 2020, giá trị sản xuất các ngành công nghiệp biển và ven biển chiếm 73 - 75% tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp; công suất điện gió, điện mặt trời đạt khoảng 220 MW.