Điều 11. Xử phạt đối với hành vi gian lận về đo lường, đóng gói hàng hoá và chất lượng hàng hoá, dịch vụ
1. Hành vi vi phạm
Hành vi vi phạm quy định tại Điều 13 Nghị định 107 gồm:
a) Hành vi gian lận về đo lường, đóng gói hàng hoá là gian lận trong việc thực hiện các phép đo, phương pháp đo trong cân, đong, đo, đếm hàng hoá (lượng hàng thiếu so với lượng ghi trên bao bì) làm thiếu hàng mà người mua vẫn phải trả tiền theo giá đủ hàng, gây thiệt hại cho khách hàng.
b) Hành vi gian lận về chất lượng hàng hoá, dịch vụ là hành vi sản xuất, chế biến, sang chiết, nạp, đóng gói, kinh doanh hàng hoá mà chất lượng hàng hoá không đúng với công bố chất lượng hoặc ghi trên nhãn hàng hoá gây thiệt hại cho khách hàng.
2. Các hành vi vi phạm, chế tài xử phạt khác trong đo lường, chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà Nghị định số 107/2008/NĐ-CP không quy định thì áp dụng chế tài xử phạt quy định tại Nghị định số 126/2005/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ và Nghị định số 95/2007/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2005/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2005 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hoá.
3. Phương pháp tính giá trị hàng hoá gian lận về số lượng:
Giá trị hàng hoá gian lận = lượng hàng hoá gian lận x giá
Trong đó:
a) Xác định lượng hàng hoá gian lận:
- Lượng hàng hoá gian lận là lượng hàng hoá thực tế tại thời điểm kiểm tra, thu giữ;
Nếu có đủ căn cứ xác định được thời gian gian lận và lượng hàng hoá gian lận trong thời gian đó thì lấy lượng hàng hoá gian lận tính từ thời gian có hành vi gian lận.
Ví dụ:
Kiểm tra cây xăng A ngày 30/12/2008 gắn chíp điện tử gây sai số 0,5%, quy định chỉ cho phép sai số 0,05%; Cơ quan kiểm tra có đủ căn cứ xác định cây xăng gắn chíp điện thử từ ngày 30/9/2008, lượng hàng hoá bán trong thời gian từ 30/9/2008 đến 30/12/2008 là 100.000 lít.
Cách tính lượng xăng gian lận về đo lường của cây xăng X như sau:
Lượng xăng gian lận = 100.000 lít X ( 0,5% - 0,05%) = 4.500 lít
- Hàng hoá gian lận về đo lường nếu là hàng hoá đóng gói sẵn mà có đủ căn cứ xác định số hàng gian lận đó thuộc lô hàng nào thì lượng hàng hoá gian lận là cả lô hàng đóng gói sẵn đó. Để đảm bảo tính đại diện cho cả lô hàng phải có đủ căn cứ đảm bảo kiểm tra xác xuất 5% số lượng hàng đóng gói sắn đang thu giữ gian lận về đo lường gây thiệt hại cho khác hàng.
Ví dụ:
Khi kiểm tra cơ sở sản xuất phân bón của Công ty X phát hiện mỗi bao có ghi trọng lượng tịnh 50 kg/bao nhưng thực tế qua kiểm tra xác định mỗi bao thiếu hụt so với trọng lượng ghi trên bao bì trung bình chỉ đạt 48,5 kg/bao; qua kiểm tra, xác định số hàng khi kiểm tra thuộc lô hàng Y và đã bán ra thị trường 500.000 kg ( 10.000 bao).
Cách tính số phân bón gian lận về đo lường của Công ty X như sau:
Lượng phân bón Công ty X gian lận = 10.000 bao X (50kg - 48,5kg) = 15.000 kg
b) Xác định giá
- Căn cứ xác định giá thực hiện theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, Thông tư số 15/2008/TT-BCT ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại và Điều 34 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008.
- Trường hợp giá thay đổi nhiều lần mà không xác định được lượng gian lận của mỗi lần thay đổi giá thì giá trị hàng hoá gian lận được tính giá theo phương pháp bình quân giản đơn.
Ví dụ:
Ngày 10 tháng 10 năm 2008, kiểm tra phát hiện Cây xăng A bán xăng với tỉ lệ sai số 0,1 %, sai số quy định cho phép 0,05%, thời gian gắn chíp điện tử gây sai lệnh về đo lường, gây thiệt hại cho khách hàng của Cây xăng trên là ngày 01 tháng 12 năm 2007; Trong thời gian trên xăng đã điều chỉnh giá 4 lần: tại thời điểm gắn chíp 1/12/2007 đang bán với giá 12.000đ/llít, điều chỉnh giá ngày 30/3/2008 lên 14.000đ/lít; điều chỉnh giá ngày 01/6/2008 lên 18.000 đ/lít; điều chỉnh giá ngày 30/8/2008 xuống 14.500 đ/lít; điều chỉnh giá ngày 20/9/2008 xuống 11.000 đ/lít. Tổng số lượng xăng bán ra từ 01/12/2007 đến 10/10/2008 là 200.000 lít.
Do không có số liệu về lượng bán trong mỗi lần thay đổi giá nên tính giá bình quan giản đơn:
Giá bình quân giản đơn = (12.000 đ/l + 14.000 đ/l + 18.000 đ/l + 14.500 đ/l +11.000 đ/l) : (chia) 5 = 13.900 đ/lít
Lượng xăng gian lận = 200.000 lít X (0.1 – 0,05) = 10.000 lít
Giá trị hàng hoá gian lận = 10.000 lít X 13.900 đồng = 139.000.000 đồng
- Trường hợp có số liệu về lượng bán của mỗi lần tăng (giảm ) giá thì tính giá theo phương pháp bình quân gia quyền.
Giá bình quân gia quyền = ∑ ( lượng hàng hoá gian lận trong từng lần thay đổi giá X giá của từng lần thay đổi) : ( chia) Tổng số lượng hàng hoá
Ví dụ: Từ ví dụ trên có thêm tài liệu chứng minh
Từ 1/12/2007 đến 29/3/2008 cây xăng A bán ra 50.000 lít, giá 12.000 đ/lít
Từ 30/03/2008 đến 01/6/2008 cây xăng A bán ra 50.000 lít giá 14.000 đ/lít
Từ 2/6/2007 đến 29/8/2008 cây xăng A bán ra: 40.000 lít giá 18.000 đ/lít
Từ 30/8/2008 đến 19/9/2008 cây xăng A bán ra: 40.000 lít giá 14.500 đ/lít
Từ 20/9/2007 đến 10/10/2008 cây xăng A bán ra: 20.000 lít giá 11.000 đ/lít
Giá bình quân gia quyền = ﴾(50.000 X 12.000) + (50.000 X 14.000) + (40.000 X 18.000) + (40.000 X 14.500) + ( 20.000 X 11.000)﴿ : (chia) 200.000 = 14.200 đ/lít
4. Phương pháp tính giá trị hàng hoá gian lận về chất lượng
- Tính giá trị hàng hoá gian lận chất lượng để xác định mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt:
Giá trị hàng hoá gian lận chất lượng = lượng hàng hoá thu giữ X giá
- Giá trị buộc đền bù thiệt hại cho khách hàng, trường hợp không xác định được khách hàng thì tịch thu số tiền nộp ngân sách nhà nước = Số lượng đơn vị hàng hoá thu giữ X ( đơn giá đơn vị hàng hoá đúng công bố chất lượng hoặc ghi trên nhãn hàng hoá – đơn giá đơn vị hàng hoá gian lận về chất lượng).
Mục III. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH