Điều 5. Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên giao và nhận rừng chuyển đổi từ rừng phòng hộ, đặc dụng quy hoạch sang rừng sản xuất
1. Trường hợp không thay đổi chủ rừng
1.1. Quyền lợi:
a) Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng trồng theo dự án 661, chương trình 327 hay các dự án ODA khác:
- Các hộ gia đình, tổ chức ngoài quốc doanh đã nhận hỗ trợ của nhà nước để trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, nay chuyển đổi sang rừng sản xuất được hưởng toàn bộ sản phẩm khai thác trên diện tích đã đầu tư nếu là rừng đến tuổi khai thác; nếu rừng chưa đến thời kỳ khai thác: Được tiếp tục đầu tư chăm sóc, bảo vệ đến hết chu kỳ hiện tại và và hưởng toàn bộ sản phẩm khai thác trên diện tích này.
- Các hộ gia đình chỉ nhận khoán công đoạn bảo vệ rừng với các tổ chức Nhà nước, nay tiếp tục nhận rừng để quản lý bảo vệ, khi khai thác hộ gia đình được hưởng bổ sung tiền bảo vệ rừng, trung bình là 200.000 đồng/ha/năm từ tiền bán gỗ khai thác của diện tích nhận khoán quản lý bảo vệ. Mức cụ thể do ban quản lý rừng hay các lâm trường đề nghị, Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định cụ thể;
- Đối với diện tích rừng phòng hộ, chủ dự án và các hộ gia đình nhận khoán trước đây có đầu tư thêm nguồn vốn tự có để trồng, chăm sóc, bảo vệ và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, khi khai thác diện tích rừng này, số tiền thu được xử lý theo thứ tự ưu tiên như sau: chi phí hợp lệ cho việc bán đấu giá, khai thác gỗ, hỗ trợ bổ sung cho hộ gia đình có công bảo vệ rừng, phần còn lại được chia theo tỷ lệ vốn đầu tư giữa vốn ngân sách, vốn của chủ dự án và các hộ gia đình. Phần tỷ lệ thuộc vốn ngân sách sẽ được thu về quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp xã;
- Đối với rừng trồng hỗn giao cây phù trợ với cây bản địa hoặc hỗn giao các loài cây bản địa khác nhau chưa đến tuổi khai thác, khuyến khích chủ rừng tiếp tục đầu tư bảo vệ chăm sóc, trồng dặm để phát triển thành rừng sản xuất cung cấp gỗ lớn.
b) Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng tự nhiên, được sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động khác theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg và các chính sách hiện hành khác.
1.2. Nghĩa vụ:
a) Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng trồng theo dự án 661:
- Các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có rừng chuyển đổi có trách nhiệm thực hiện các quy định về quyền hưởng lợi của các hộ gia đình, cá nhân đã tham gia nhận khoán trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng theo quy định.
- Người khai thác nộp lại cho quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp xã 80 kg thóc/ha khi khai thác rừng.
- Trồng lại rừng sau khi khai thác 12 tháng, nếu không trồng lại thì Nhà nước sẽ thu hồi diện tích đã giao.
b) Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng tự nhiên, thực hiện bảo vệ và phát triển rừng theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg.
2. Trường hợp giao rừng cho chủ mới
2.1. Bên giao rừng chuyển đổi
a) Quyền lợi:
- Chủ rừng là các Ban quản lý rừng của nhà nước được giảm vốn Nhà nước đã đầu tư đối với diện tích rừng chuyển đổi đối với rừng phòng hộ, đặc dụng đã đầu tư theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
b) Nghĩa vụ:
- Nếu đối tượng rừng chuyển đổi là rừng trồng phòng hộ, đặc dụng theo dự án 661 hay 327, mà các ban quản lý dự án 661 đã cho các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ mà nay được chuyển sang chủ rừng mới phải có trách nhiệm giải quyết các quyền lợi đối với các hộ gia đình cá nhân nhận khoán trước đó theo quy định.
- Tham gia giám sát, bàn giao diện tích và chất lượng rừng, nguồn vốn đã đầu tư cho rừng được chuyển đổi, báo cáo kết quả chuyển đổi rừng do đơn vị quản lý cho cấp có thẩm quyền;
- Hoàn thiện các thủ tục giảm vốn đã đầu tư cho diện tích rừng đã giao trình cấp có thẩm quyền;
- Rà soát và xây dựng lại dự án 661 nếu có chuyển đổi rừng trong phạm vi quản lý của dự án.
2.2. Bên nhận rừng chuyển đổi
a) Quyền lợi:
- Nếu đối tượng rừng chuyển đổi là rừng trồng phòng hộ, đặc dụng theo dự án 661 hay 327, mà hộ gia đình, cá nhân đã nhận khoán với các ban quản lý rừng rừng phòng hộ, đặc dụng, Ban quản lý dự án 661 (hay các ban quản lý dự án khác) tất cả các công đoạn, từ trồng rừng, chăm sóc đến bảo vệ mà nay được chuyển sang nhận rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, được hưởng toàn bộ sản phẩm khai thác trên diện tích đã đầu tư nếu là rừng đến tuổi khai thác; nếu rừng chưa đến thời kỳ khai thác: Được tiếp tục đầu tư chăm sóc, bảo vệ đến hết chu kỳ hiện tại và và hưởng toàn bộ sản phẩm khai thác trên diện tích này.
- Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng trồng hỗn giao cây phù trợ với cây bản địa hoặc hỗn giao các loài cây bản địa khác nhau chưa đến tuổi khai thác, khuyến khích bên nhận rừng tiếp tục đầu tư bảo vệ chăm sóc, trồng dặm để phát triển thành rừng sản xuất cung cấp gỗ lớn;
- Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng tự nhiên, được sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động khác theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg và các chính sách hiện hành khác;
b) Nghĩa vụ:
- Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng trồng, hoàn thiện thủ tục tăng vốn đối với diện tích rừng chuyển đổi đối với diện tích rừng tăng thêm do chuyển đổi đối với doanh nghiệp quốc doanh theo các quy định hiện hành của Nhà nước; nộp lại cho quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp xã 80 kg thóc/ha khi khai thác rừng; trồng lại rừng sau khi khai thác 12 tháng, nếu không trồng lại thì Nhà nước sẽ thu hồi diện tích đã giao.
- Đối với những diện tích rừng chuyển đổi là rừng tự nhiên, thực hiện bảo vệ và phát triển rừng theo Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg.