Điều 4. Chứng minh hoặc suy đoán quốc tịch
1. Các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam:
a) Hộ chiếu Việt Nam còn giá trị;
b) Giấy chứng minh nhân dân Việt Nam còn giá trị;
c) Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam còn giá trị;
d) Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam còn giá trị;
e) Giấy chứng nhận quốc tịch Việt Nam còn giá trị do các cơ quan có thẩm quyền trong nước, cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp.
2. Các giấy tờ chứng minh quốc tịch Thụy Điển:
a) Hộ chiếu Thụy Điển còn giá trị;
b) Quyết định cho nhập quốc tịch còn giá trị;
c) Quyết định cho trở lại quốc tịch còn giá trị;
d) Giấy chứng nhận quốc tịch Thụy Điển còn giá trị do các cơ quan có thẩm quyền trong nước, cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự của Thụy Điển ở nước ngoài cấp.
3. Để việc suy đoán quốc tịch Việt Nam hoặc giấy phép cư trú của người trở về có giá trị, phía Thụy Điển có thể cung cấp cho phía Việt Nam những giấy tờ sau của Việt Nam:
a) Bản sao các giấy tờ nêu tại khoản 1 Điều này;
b) Hộ chiếu và Giấy chứng minh nhân dân đã hết hạn;
c) Chứng minh thư biên giới;
d) Giấy chứng minh quân nhân;
e) Giấy thông hành có ảnh;
f) Hộ chiếu thuyền viên;
g) Giấy khai sinh;
h) Sổ hộ khẩu;
i) Thẻ cử tri mới nhất;
j) Giấy phép lái xe;
k) Bản sao các giấy tờ nêu tại các điểm từ (b) đến (j) của khoản này;
l) Lời khai bằng văn bản của các nhân chứng;
m) Lời khai bằng văn bản của người trở về;
n) Báo cáo bằng văn bản về việc kiểm tra ngôn ngữ của người trở về, chỉ liên quan đến ngôn ngữ dùng trong các giấy tờ nêu tại các điểm từ (a) đến (k) và điểm (o);
o) Các giấy tờ khác dùng để hỗ trợ việc xác minh quốc tịch của người trở về.
4. Để việc suy đoán quốc tịch Thụy Điển hoặc giấy phép cư trú của người trở về có giá trị, phía Việt Nam có thể cung cấp cho phía Thụy Điển những giấy tờ sau của Thụy Điển:
a) Bản sao các giấy tờ nêu tại khoản 2 Điều này;
b) Hộ chiếu đã hết hạn;
c) Giấy chứng minh quân nhân;
d) Giấy thông hành có ảnh;
e) Hộ chiếu thuyền viên;
f) Giấy khai sinh;
g) Thẻ cử tri mới nhất;
h) Giấy phép lái xe;
i) Bản sao các giấy tờ nêu tại các điểm từ (b) đến (h) của khoản này;
j) Lời khai bằng văn bản của các nhân chứng;
k) Lời khai bằng văn bản của người trở về;
l) Báo cáo bằng văn bản về việc kiểm tra ngôn ngữ của người trở về, chỉ liên quan đến ngôn ngữ dùng trong các giấy tờ nêu tại các điểm từ (a) đến (h) và điểm (m);
m) Các giấy tờ khác dùng để hỗ trợ việc xác minh quốc tịch của người trở về.
5. Nếu các chứng cứ hoặc các giấy tờ được coi là chứng cứ được nêu tại các khoản từ 1 đến 4 của Điều này không đủ để chứng minh hoặc suy đoán quốc tịch, cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết được yêu cầu sẽ nhận lời mời của Bên ký kết yêu cầu sang tiến hành thẩm vấn nhằm xác định quốc tịch của đương sự. Những cuộc thẩm vấn như vậy cũng có thể được thực hiện bởi Cơ quan đại diện ngoại giao của Bên ký kết được yêu cầu tại nước Bên ký kết yêu cầu. Bên ký kết yêu cầu sẽ chịu mọi chi phí liên quan đến việc tiến hành thẩm vấn này.