Điều 45. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 3 năm 2011
Bãi bỏ quy trình kỹ thuật đo địa chấn được ban hành tại Quyết định số 661/QĐ/ĐCKS-KHTC ngày 23 tháng 12 năm 2004 của Cục truởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
2. Cục truởng Cục Địa chất và Khoáng sản, các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, các tổ chức, cá nhân thực hiện các dự án chuyên môn áp dụng phương pháp đo địa chấn chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này./.
Nơi nhận: - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - Kiểm toán Nhà nước; - UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương; - Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương; - Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản); - Công báo; - Cổng thông tin điện tử Chính phủ; - Các đơn vị trực thuộc Bộ; Website Bộ; - Lưu: VT, ĐCKSVN, PC. | KT.BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Nguyễn Linh Ngọc
PHỤ LỤC 1
MẪU CÁC SỔ GHI ĐỊA CHẤN (Ban hành kèm theo Thông tư số 04 /2011/TT-BTNMT ngày 29 tháng 01 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
1. MẪU BÌA VÀ TRANG ĐẦU CỦA SỔ GHI ĐỊA CHẤN
| CƠ QUAN CHỦ TRÌ TỔNG CỤC, CỤC, TRUNG TÂM….. ĐƠN VỊ…. SỔ GHI ĐO ĐỊA CHẤN Số ..... Vùng công tác: ......... Tên máy: ......... Số máy: ......... Người do máy: ......... Ai nhặt được sổ này, xin gửi đến địa chỉ: ..... Năm ......... |
||
2. MẪU TRANG GHI ĐO SÓNG KHÚC XẠ, PHẢN XẠ
Vùng: ..... | Máy: ..... | Ngày: .....
Tuyến: ..... | Số máy: ..... | Thời tiet: .....
Khoảng cách điểm nguồn: ..... | Người do: ..... | Bắt đầu lúc: .....
Khoảng cách điểm thu: ..... | Người ghi: ..... | Kết thúc lúc: .....
| TT | Tên tệp số liệu | Cọc điểm nguồn | Cọc điểm thu | | Ghi chú: đặc điểm địa hình, địa vật, mốc tuyến, địa chất, thuỷ văn, ... |
|||||||
| | | | Đầu | Cuối | |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |
| | | | | | |
| | | | | | |
| | | | | | |
| | | | | | |
| | | | | | |
3. MẪU TRANG GHI ĐO ĐỊA CHẤN LỖ KHOAN, CHIẾU SÓNG ĐỊA CHẤN
Vùng: ..... | Máy: ..... | Ngày: .....
Lỗ khoan: ..... | Số máy: ..... | Thời tiet: .....
Độ sâu LK: ..... | Người do: ..... | Bắt đầu lúc: .....
Khoảng cách điểm thu: ..... | Người ghi: ..... | Kết thúc lúc: .....
| TT | Tên tệp số liệu | Điểm nguồn | Hướng phát xung | Điểm thu | | Ghi chú: Vẽ sơ đồ do, tình trạng LK |
||||||||
| | | | | Đầu | Cuối | |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
4. MẪU TRANG GHI THEO DÕI MÁY ĐỊA CHẤN
Đơn vị chủ máy: | Số máy: ..... | Quyển số: .....
Năm sản xuất: | Máy: ..... | Từ ngày: .....
Năm đưa vào sử dụng: | Đến ngày: .....
| TT | Ngày tháng | Công việc | Bộ phận máy có sự cố | Người thực hiện | Chữ ký | Tình trạng thiết bị: Trước, sau kiểm tra, sửa chữa |
||||||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
| | | | | | | |
PHỤ LỤC II
CÁC BIỆN PHÁP KIỂM CHUẨN HỆ ĐO GHI ĐỊA CHẤN (Ban hành kèm theo Thông tư số 04 /2011/TT-BTNMT ngày 29 tháng 01 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Khi chưa có Qui trình kiểm định hệ máy đo ghi địa chấn, thực hiện các phương pháp kiểm tra sau:
1. Kiểm tra bề ngoài các thiết bị chính
+ Kiểm tra tài liệu kỹ thuật của máy: thuyết minh kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, lý lịch máy.
+ Kiểm tra máy đo ghi: Vỏ máy, mặt màn hình, bảng phim bấm, không bị nứt vỡ.
+ Vòng đệm giữa các hợp phần vỏ máy khít và không rách đứt, đảm bảo kín không bị thấm nước. Các đầu nối không bị biến dạng, chân nối không bị han rỉ. Các ốc vít phải đủ và vặn chặt.
+ Cáp thu không bị rách vỏ hay đứt, gãy. Đầu cáp và vòng nối máy thu không bị biến dạng, han rỉ.
+ Các máy thu và đầu dây có kẹp cá sấu không bị biến dạng, han rỉ.
2. Kiểm tra khả năng làm việc
+ Lắp nguồn cho máy theo hướng dẫn sử dụng. Bật máy. Theo dõi quá trình khởi động của máy đến khi hiện bảng thực đơn chính điều khiển đo đạc. Nếu thấy bất thường, cần tắt máy, tìm nguyên nhân và khắc phục. Nếu không tìm được nguyên nhân, cần chuyển máy đến cơ sở sửa chữa.
+ Kiểm tra điều hành đo đạc của máy:
- Kiểm tra chức năng đặt tham số làm việc: Dùng các thực đơn đặt tham số ghi (Setting), thay đổi thử các tham số đo ghi như bước số hoá, độ dài ghi, độ trễ ghi (đương và âm), độ nhạy khởi động, đặt bộ lọc,... Khi kết thúc phép thử, trả lại các tham số như trị số sẽ dùng trong đo thực địa.
- Kiểm tra hoạt động của chức năng Chờ ghi (máy Mark-6 báo là Armed). Thử đoản mạch lối vào khởi động (Trig), máy sẽ phải ghi một băng.
- Kiểm tra hoạt động của chức năng Kiểm tra máy thu (Geophone Check).
3. Kiểm chuẩn tính đồng nhất của các kênh ghi của máy đo ghi
+ Đặt bước số hoá ở trị số sẽ làm việc hoặc nhỏ hơn một cấp theo bảng chọn của máy.
+ Để hở mạch các lối vào, dùng chức năng Kiểm tra máy thu (Geophone Check) của máy đo để phát sang các lối vào tín hiệu xung kiểm tra, ghi một đến ba băng ghi.
c) Hiện và in băng này với tỷ lệ hiện tín hiệu các kênh như nhau, xem xét dạng, quá trình quá độ và độ lớn của tín hiệu ghi được.
+ Các đường ghi trên một băng phải cùng dạng (dạng cụ thể không quan trọng), sai lệch độ khuếch không quá 15% và sai lệch pha của các cực trị không quá 1%.
4. Kiểm tra cơ sở thời gian của máy
Mạch cơ sở thời gian của máy điều khiển bước số hoá và tiến trình số hoá số liệu. Do mạch đồng hồ hiện đại dùng máy phát thạch anh có độ chính xác 10 -5 , nên chỉ kiểm tra khi thấy: + Thời gian thực của máy tính điều hành đo ghi chạy sai khác với các đồng hồ thông thường. + Kết quả kiểm chuẩn đồng nhất kênh ghi cho ra dạng xung khác với kết quả kiểm tra của kỳ trước.
Hình 17. Mạch dùng cho kiểm cơ sở thời gian của máy
Kiểm tra bằng cách ghi tín hiệu vào là tín hiệu của đường điện lưới quốc gia 50 Hz, có chu kỳ T= 20 ms (Không dùng điện của các máy phát khác). Dùng một hệ gồm biến áp 220 V xuống 1,5 V có dây cuộn cách ly và một biến trở có điện trở không quá 220 Ω, chỉnh cho tín hiệu ra cỡ 0,2 V trước khi nối vào máy địa chấn. Cần có von kế hiện mức tín hiệu này, để tránh tín hiệu lớn (điện áp đỉnh quá 3 V) có thể làm hỏng máy (Hình 17).
Đo ghi tín hiệu này và xác định chu kỳ thực trên băng. Nếu chu kỳ sai khác với chu kỳ điện lưới quá 5% thì cơ sở thời gian của máy đã sai.
5. Kiểm tra mạch khởi động ghi (mạch dấu moment)
Kiểm tra chế độ khởi động tương tự (Analog) và chế độ khoá (Switch).
Chế độ khởi động tương tự dùng khi khởi động ghi cho máy trực tiếp từ mạch lấy dấu khởi động bằng máy thu sóng, bằng công tắc búa, hoặc bằng vòng dây hay xung phát nổ (khi nổ).
Chế độ khoá dùng khi ghép nhiều máy đo ghi, mà máy nhận xung khởi động ghi từ máy đo chủ khác.
+ Để kiểm tra chế độ khởi động tương tự, đặt chức năng khởi động (Set Trig) ở khởi động tương tự (Analog), độ nhạy khởi động 50 ¸ 70% (Analog Trig Sensitivity). Dùng một máy thu lắp vào đầu dây khởi động. Đặt máy ở chế độ đo đạc. Gõ nhẹ lên máy thu, sẽ phải khởi động một lần đo ghi.
+ Để kiểm tra chế độ khởi động khoá, đặt chức năng khởi động ở chế độ khoá (Switch). Dùng một dây dẫn nối tắt lối vào khởi động. Đặt máy ở chế độ đo đạc. Lúc chập mạch (hoặc lúc nhả dây ra) sẽ phải khởi động một lần đo ghi.
+ Kiểm tra độ trễ khi dùng xung điện phát nổ: Độ trễ nổ một vài ms của kíp nổ sẽ gây sai lệch đo thời gian trong địa chấn công trình, vì thế không nên dùng phương pháp xung phát nổ để lấy dấu khởi động. Nếu dùng, cần kiểm tra độ trễ phát nổ cho loạt kíp sẽ sử dụng.
Cách kiểm độ trễ là lắp đặt hệ đo trên bãi thử, với vài ba kênh thu. Nổ thử tại sát điểm thu với hai cách lấy dấu khởi động: theo vòng dây và theo xung phát nổ. Xác định thời gian của các cực trị sóng ở các máy thu và so sánh số đọc giữa hai kiểu lấy dấu khởi động. Nếu độ lệch khởi động dưới 1ms thì chấp nhận được cách lấy dấu khởi động đo ghi theo xung phát nổ.
6. Kiểm tra máy thu sóng
Gồm kiểm tra tính đồng pha và cùng hệ số biến đổi tín hiệu (hệ số cơ điện) của máy thu.
+ Đánh số các máy thu hiện có, lần lượt kiểm tra các máy thu theo nhóm 12 hoặc 24 chiếc (theo số kênh đo của máy).
+ Lắp đặt hệ thống đo trên sân đất có điều kiện bề mặt đồng nhất, đặt các máy thu tại cùng một vị trí, sau đó ghi băng với nguồn đập cách điểm thu cỡ 7 đến 10m.
+ Hiện và in băng này với tỷ lệ hiện tín hiệu các kênh như nhau. Kiểm tra dạng của các đường ghi với nhau. Đường ghi của các kênh phải cùng dạng. Sai lệch độ khuếch đại không được quá 15% và sai lệch pha của các cực trị không quá 1%.
+ Khi thay nhóm máy thu, giữ lại một máy hay hai máy của nhóm cũ để làm mốc so sánh giữa các nhóm.
PHỤ LỤC III
CÁC HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT BỔ SUNG (Ban hành kèm theo Thông tư số 04 /2011/TT-BTNMT ngày 29 tháng 01 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
1. Các nguồn phát sóng
Đặc trưng sóng do nguồn phát ra là yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng tài liệu và do đó đến khả năng giải quyết nhiệm vụ của phương pháp địa chấn. Đặc trưng này phụ thuộc vào các yếu tố:
- Kiểu nguồn,
- Môi trường quanh nguồn,
- Cách thức thi công phát sóng.
Do đó khi thi công cần xử lý tốt điểm phát sóng, đặc biệt khi cần phát sóng có hướng xung lực ưu tiên nhất định.
+ Nguồn nổ (chất nổ TNT, ammonit, kíp nổ) cho ra xung lực mạnh phổ rộng và gần đẳng hướng.
Một vụ nổ gây ra trong môi trường 3 vùng biến dạng: Tâm lò nổ là vùng vỡ vụn, bao quanh là vùng nứt vỡ và ở ngoài cùng đủ xa là vùng dao động đàn hồi.
Để bảo đảm an toàn cho thiết bị, búi dây thu phải ở ngoài vùng nứt vỡ. Khoảng an toàn cho người và các phương tiện khác xác định theo vùng đá văng theo Qui định về sử dụng vật liệu nổ.
Tín hiệu thực có ở ngoài điểm nổ tuỳ thuộc môi trường xung quanh. Môi trường nổ tốt nhất là nước (sông hồ, trong lỗ khoan có nước) hoặc đất bão hoà nước. Môi trường đất đá bở rời sẽ làm giảm tần số sóng phát ra, thường tần số chính sẽ dưới 30 Hz, ảnh huởng đến giải đoán các sóng đến sau xung đầu tiên. Đặc biệt nổ ở môi trường cát thạch anh khô, sẽ làm phát sinh hiệu ứng áp điện, tạo ra xung điện nhiễu có thể xoá hết tín hiệu sóng thu được ở máy thu.
Yếu tố xác định hiệu suất tạo sóng của vụ nổ là lớp chắn phía trên liều nổ, ngăn chặn năng lượng thoát ra không khí. Vì thế chỉ khi dùng liều nổ nhỏ mới nổ trên mặt đất. Khi dùng liều nổ lớn, phải đặt trong lỗ khoan hoặc hố đào đủ sâu, chèn nút lỗ nổ cẩn thận. Buồng nổ là phương tiện cho phép thi công nổ liều nhỏ ở vùng dân cư - công nghiệp cần có độ an toàn cao.
Khi ngăn chặn được năng lượng thoát ra không khí, thì biên độ sóng A tại điểm đủ xa điểm nổ (vùng dao động đàn hồi), tỷ lệ với căn bậc ba của lượng liều nổ Q:
Trong đó K là hệ số tỷ lệ phụ thuộc hiệu suất tạo sóng và khoảng cách đến điểm thu. Vì lý do này, cách ghi cộng đồng bộ nhiều lần nổ sẽ tăng hiệu quả sử dụng chất nổ.
+ Nguồn búa đập cho ra xung dịch chuyển có phương ưu tiên theo hướng đập. Trên nền đất đá cứng chắc, sẽ cho ra tần số đủ cao, trên 40 Hz, nhưng trên nền đất đá bở rời, phong hoá sẽ cho ra tần thấp, tần số chính có thể dưới 25 Hz. Nếu dùng kiểu tạ thả rơi, thì chỉ cho ra xung dịch chuyển theo phương thẳng đứng.
+ Nguồn phát sóng định hướng chọn lọc, là thiết bị dùng búa máy kích thích vào đất các xung dịch chuyển theo phương ưu tiên nhất định, dùng cho đo đạc trên bộ. Nguồn này có tính chất gần giống nguồn búa đập, nhưng mạnh hơn và dễ tự động hoá đo đạc hơn.
+ Nguồn máy rung Vibroseis, phát tín hiệu hình sin có tần số kiểm soát được trong dải tần làm việc, cho ra xung dịch chuyển có hướng. Việc xử lý tài liệu phức tạp. Lượng dữ liệu của một băng ghi địa chấn rung rất lớn; dùng lượng dĩa cứng 350 MB của máy do có thể không đủ sức chứa cho một ca làm việc.
+ Nguồn súng hơi, xung điện (boomer) thích hợp cho đo ghi ở môi trường nước, có đặc trưng băng tần không rộng như nguồn nổ và dạng xung nguồn thường có cực trị lặp, có thể gây khó khăn cho xác định các sóng đến sau.
2. Xây dựng biểu đồ sóng tiên nghiệm
Qui định chung của phương pháp sóng khúc xạ là khi lập dự án, phải xác định mô hình môi trường, dựng biểu đồ sóng dự đoán, từ đó chọn hệ quan sát và tham số ghi phù hợp, trong đó:
+ Độ dài đoạn thu phải đủ lớn để với 1 điểm nguồn gần ở đầu đoạn thu, phải theo dõi được sóng nền PPP lộ ra ở sóng tới đầu tiên (First Break) khi ra xa điểm nguồn.
+ Độ dài ghi tín hiệu phải đủ lớn để ghi hết các tín hiệu có ich. Biểu đồ sóng dự đoán từ lớp i có dạng:
ti = t0i + hi / Vi
Trong đó:
hi, Vi độ sâu và tốc độ sóng,
t0i = 2hi /Vi-1 thời gian tiếng vang của ranh giới thứ i.
Tính toán hoặc đồ giải, sẽ tìm được điểm lộ sóng nền XN (Hình 3).
Chọn tín hiệu có ích đến sau sóng tới đầu tiên và chọn độ dài ghi dựa theo như cầu khảo sát và khả năng đo ghi của máy. Theo biểu đồ sóng tiên nghiệm, có thể (và thực tế thường phải) bỏ qua các sóng hình thành từ ranh giới trong lớp phủ khi ra xa điểm nguồn. Tuy nhiên trong địa chấn công trình phải theo dõi được sóng trao đổi PSP hình thành từ mặt nền đá gốc.
Với mô hình môi trường phổ biến của địa chất công trình, có nền đá gốc ở sâu cỡ 5 ¸ 30 m và tỷ số tốc độ lớp phủ với đá gốc là 1/2, thì điểm lộ sóng nền thường không quá 70 m. Khi máy đo có 24 kênh, khoảng cách điểm thu từ 5m trở lên, một chặng đo đủ đảm bảo điều kiện này, nên nhiều văn liệu hiện tại coi một chặng đo là đủ để bắt gặp sóng từ mặt nền đá gốc. Chỉ khi dùng máy 1,6 hay 12 kênh, thì mới nhấn mạnh đến việc theo dõi đến khi bắt được sóng từ mặt nền đá gốc.
Để tính toán, có thể dùng mẫu môi trường phổ biến của địa chất công trình là 3 lớp, với V1 = 500, V2 = 1500 và V3 = 4500 (lớp nền) và uớc lượng hi từ thông tin ban đầu về vùng khảo sát.
Kết quả tính cho mô hình môi trường phổ biến của địa chất công trình cho ra công thức kinh nghiệm XN = 2,5h.
3. Lọc số bằng chức năng Filter của chương trình điều hành máy đo
Hình 18. a) Băng ghi dải rộng 16 ¸ 1000Hz chưa lọc; và b) băng ghi đã lọc số dải tần 80 ¸ 500Hz, làm nổi trục đồng pha, nhưng các gẫy đầu sóng kém rõ ràng hơn.
Máy đo hiện đại như Mark-6 có chức năng Lọc số (Digital Filter) cài sẵn trong chương trình điều hành, gồm:
Bandpass | Lọc thông băng.
Highpass | Lọc thông cao.
Lowpass | Lọc thông thấp.
Band Rejection | Lọc triệt băng.
a - b Filter | Lọc san, để khử nhiễu theo thuật toán Kalman.
Khi chọn phép lọc trong miền tần số, sẽ yêu cầu chọn các tham số:
Lowcut Frequency | Tần cắt dưới.
Highcut Frequency | Tần cắt trên.
Filter Slope | Độ dốc tại ranh giới lọc, tính ra dB/Octave.
Khi chọn Lọc san Kalman a - b Filter, sẽ yêu cầu chọn các chỉ số:
Alpha | Chỉ số san, chọn trong dải 0,0 (san mạnh) đến 1,0 (san yếu).
Filter Damping (Beta): | Chỉ số suy giảm bộ lọc.
Điểm yếu của phép lọc trong xử lý số là tính đẳng hướng với thời gian, tức là coi diễn biến tín hiệu theo chiếu t và -t là như nhau, trong khi bộ lọc điện tử (bộ lọc analogue) chỉ phản ứng với thời gian thuận t. Vì thế bộ lọc điện tử bảo toàn dạng đầu sóng của tín hiệu, còn phép lọc số sẽ biến đầu sóng thành dao động về quá khứ. Do đó phép lọc số sẽ làm nổi các cực trị, làm mờ các đầu sóng (Hình 18).
Khi xử lý tài liệu sóng khúc xạ trong địa chất công trình, thì lọc số sẽ giúp liên kết pha thuận lợi hơn, nhưng việc tìm đầu sóng phải thực hiện trên băng chưa lọc.
4. Tạo điều kiện thuận lợi để kích thích sóng ngang
Khi dùng máy thu thẳng đứng, chỉ có thể thu được sóng ngang trao đổi loại PSP.
Sự hình thành các sóng trong môi trường được giải thích trên mô hình hai lớp phẳng ngang, có tốc độ V1 và V2 và độ sâu H2 như sau (Hình 19):
Hình 19. Sự hình thành sóng P1P2P1 (hay PPP) và sóng trao đổi P1S2P1 (hay PSP).
a) Biểu đồ thời khoảng; b) Mô hình môi trường và phân tích xung lực để ước lượng cường độ sóng; c) Băng ghi có sóng PPP và sóng trao đổi PSP
Từ điểm nguồn A, tia sóng dọc tới hạn P1 vào môi trường 2 tại điểm B, tạo ra tia khúc xạ trượt theo ranh giới BC.
Xung lực Ei của tia tới được phân tích ra hai thành phần Eh và Ev. Thành phần Eh cùng phương với tia khúc xạ, tạo ra sóng trượt dọc P2 ở lớp nền, còn Ev tạo ra dao động ngang, lan truyền thành sóng trượt S2 (kiểu Sự - ngang thẳng đứng). Các dao động ngang truyền chậm hơn, nên khi ra khoảng đủ xa thì phân ly sóng.
Theo nguyên lý Huy-ghen, rung động trong lớp nền, ví dụ tại điểm C, sẽ kích thích môi trường V1 rung động theo. Rung động này tạo ra cả sóng dọc P1 và ngang S1 trong môi trường 1, với biên độ sóng xác định theo thành phần xung dọc EP và ngang tia ES. Vì dùng máy thu thẳng đứng, nên ta thu được sóng dọc P1.
Kết quả là tại điểm thu D, sẽ thu được hai sóng đầu hình thành từ tia trượt, là P1 P2 P1 và P1 S2 P1, hay viet gọn là PPP và PSP.
Phép phân tích lực cho thấy biên độ sóng PSP lớn hơn PPP nhiều lần. Mặt khác môi trường hấp thụ sóng ngang mạnh hơn, nên suy giảm biên độ và tần số của sóng PSP sẽ lớn hơn. Do đó dấu hiệu để giải đoán sóng ngang là cùng với sự tương hợp dạng biểu đồ sóng, thì biên độ và chu kỳ biểu kiến của sóng PSP phải lớn hơn sóng PPP tương ứng. Tỷ số biên độ theo Savitch là 1,3 đến 3 lần đối với đá nguyên dạng, mặc dù theo phân tích vectơ thì tỷ số này phải lớn hơn nữa.
Từ phép phân tích lực, ta cũng thấy để tăng hiệu quả tạo sóng khi dùng nguồn búa đập, cần đập nghiêng theo góc tới hạn, hướng về phía búi thu.
Hình học địa chấn là khảo sát gần đúng của lý thuyết đàn hồi, nên phép phân tích lực theo hướng tia sóng không đủ để lý giải phân bố năng lượng các sóng trao đổi. Và trong thực tế sự hình thành sóng trao đổi ngang rất tuỳ thuộc vào trạng thái của ranh giới. Trong môi trường thực, đo sóng khúc xạ trên mẫu đá (bằng siêu âm) hoặc đo trong hầm lò thì sóng PSP xuất hiện khá rõ. Nhưng khi đo sóng khúc xạ trên mặt cắt có lớp nền nằm sâu trên 5 m thì sóng trượt ngang thường bị hấp thụ mất, nên việc tìm sóng ngang rất khó khăn.
5. Xử lý tài liệu địa chấn phản xạ
Kỹ thuật quan sát và xử lý tài liệu sóng phản xạ liên tục được hoàn thiện và phát triển và kết tinh trong hệ thống thiết bị và phần mềm đắt giá thuộc sở hữu của các công ty thăm dò dầu khí. Những người làm địa chấn công trình - mỏ khó có thể trang bị được như vậy.
Những thông tin sau đây đưa ra để định hướng cho việc chọn lựa mức độ yêu cầu thực hiện xử lý tài liệu.
Giả sử đã nhập tọa độ (x,y,z) của điểm nguồn (điểm nguồn) và điểm thu (ĐT) cho các đường ghi, việc xử lý tài liệu sóng phản xạ điểm sâu chung thường gồm có những công đoạn sau:
+ Xử lý các băng ghi điểm nguồn chung
Gồm có hiệu đính, khử các nhiễu thường trực và hiệu đính về thời gian thẳng đứng (hay khử độ dịch địa chấn). Nhiễu thường trực chủ yếu gồm sóng đầu tiên và sóng mặt (sóng Rayleigh), sóng không khí.
- Hiệu đính điều kiện phát - thu (hiệu đính đặc trưng tĩnh): Thực hiện hiệu đính độ sâu và trạng thái tốc độ của điểm phát và thu về cùng độ sâu hoặc độ cao tuyệt đối qui uớc.
Để hiệu đính tài liệu đo trên bộ, phải có số liệu tốc độ ở lớp phủ mặt. Xác định tốc độ này bằng đo lỗ khoan và/hoặc dùng các sóng đầu tiên của băng ghi để xác định lớp mặt theo cách xử lý tài liệu của phương pháp sóng khúc xạ.
- Khử sóng đầu tiên: Bằng phép dập (hay xoá, Mute). Hàm hệ số xoá có dạng cửa sổ thời gian. Vị trí cửa sổ này dịch theo thời điểm xuất hiện sóng đầu tiên. Tham số quan trọng và khó chọn là bề rộng và dạng của đoạn chuyển tiếp hệ số, sao cho nó dập được sóng đầu, nhưng không làm mất các phản xạ sớm và không tạo ra các dao động phụ khi xử lý số (hiệu ứng Gibbs trong xử lý số).
Hình 20. Các nhiễu thường trực trên băng sóng phản xạ (a), đường ghi (b) và một dạng hàm cửa sổ (c) để xoá sóng đầu tiên cho đường ghi đó.
Đoạn chuyển tiếp đơn giản có dạng tuyến tính (hình 20c). Dạng phức tạp hơn là cosin có đặc tính dập tốt hơn (thường gọi là cửa sổ Hanning).
- Khử sóng mặt: Thực hiện đồng thời cho các đường ghi của băng điểm nguồn chung. Hiệu quả thường phụ thuộc vào sự đồng đều điều kiện thu của các đường ghi. Có hai phương pháp chính:
+ Trừ chọn lựa: Xác định dạng xung tín hiệu (wavelet) của sóng mặt và trừ nó đi trên các đường ghi. Hiệu quả khử phụ thuộc phép xác định dạng tín hiệu và sự đồng nhất dạng tín hiệu của các đường ghi.
+ Lọc trong miền số sóng n, t (wave number): Thực hiện biến đổi băng ghi từ miền (x,t) sang miền (n, t), dập bỏ các vùng ứng với nhiễu thường trực, rồi biến đổi trở lại miền (x,t).
Thực tế có thể tiến hành đồng thời cả hai phương pháp, để bổ trợ lẫn nhau.
- Hiệu chỉnh về thời gian thẳng đứng: Thực hiện hiệu chỉnh cho các đường ghi về dạng nổ và thu sóng tại cùng một điểm (xG, yG), tiền đề cho cộng sóng điểm sâu chung.
+ Xử lý các đường ghi
Đường ghi tín hiệu sóng phản xạ s(t) có mô hình là tích chặp của hàm cường độ tín hiệu phản xạ k(t) và hàm dạng xung tín hiệu phản xạ w(t). Hàm k(t) là đãy xung d, ứng với các đầu sóng.
Độ dài hiệu dụng của w(t) quyết định đến độ phân giải các ranh giới phản xạ của tài liệu: Nếu xung phản xạ kế tiếp xuất hiện quá sớm, khi xung trước chưa kết thúc, thì sẽ bị chế khuất.
Phép lọc ngược (Deconvolution) thực hiện biến đổi đường ghi để rút ngắn độ dài hiệu dụng của dạng xung w(t) đã quan sát được. Trường hợp lý tuởng là rút ngắn về xung d, song trong thực tế khó đạt được điều đó. Có hai hướng xử lý chính:
- Lọc ngược bằng toán tử f(t), rút ngắn tối da hàm w(t). Đa số các công trình nghiên cứu lọc ngược đều theo hướng này.
- Tính đồng thời hai hàm k(t) và w(t) bằng phép tương tự cao nhất (Maximum Likelyhood Deconvolution). Đây là ý tuởng hay, nhưng khối lượng tính toán lớn và thuật tính chưa ổn định, nên chưa chiếm lĩnh được vị trí trong xử lý.
Lọc ngược áp dụng trong 3 giai đoạn: trước khi cộng sóng, cộng với bậc cộng thấp (trộn sóng), hoặc sau khi cộng.
+ Cộng sóng
Thực hiện cộng các đường ghi để làm nổi các tín hiệu có tương quan trong không gian (x,y,z), cho ra sản phẩm mặt cắt địa chấn - địa chất.
- Cộng điểm sâu chung: Cộng các đường ghi có chung trung điểm của điểm nguồn và ĐT.
- Cộng điểm phản xạ chung: Hiện ít có tài liệu đề cập đến.
+ Phương pháp địa chấn địa tầng
Phương pháp địa chấn địa tầng thực hiện giải đoán địa chất các băng ghi tổng của sóng phản xạ, gồm các bước:
- Các mặt phản xạ được chia thành tập hay phức hệ, dựa theo các dấu hiệu của đặc trưng động (dạng sóng, tốc độ), đặc trưng động lực (cường độ, tần số,...), mức độ liên tục và quan hệ thế nằm của ranh giới. Trong một tập, các ranh giới nằm gần song song, có đặc trưng động - động lực giống nhau, phản ánh các nhịp của quá trình trầm tích.
- Quan hệ giữa các tập phản ánh quan hệ các tầng trầm tích, với các dạng chỉnh hợp và bất chỉnh hợp (phủ, gá, bào mòn, đào khoét, đứt gẫy). Xác định ranh giới giữa các tập hay phức hệ đó để đưa lên mặt cắt địa chất.
- Dựa trên kết quả phân chia đó, kết hợp với các quan sát địa chất - địa vật lý khác, xác định ra các tầng trầm tích và thạch học của chúng.
Đây là công đoạn phụ thuộc vào trực giác và kinh nghiệm của người phân tích, đặc biệt khi lý giải các hiện tượng biểu hiện trong tài liệu địa chấn khác.