BAN HÀNH ĐIỀU LỆ TẠM THỜI VỀ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN,VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC
Căn cứ vào các điều 24, 31 và 32 của Hiến pháp Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà;
Để cải tiến và thống nhất các chế độ có tính chất bảo hiểm xã hội hiện hành, nhằm cải thiện đời sống của công nhân, viên chức Nhà nước;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ lao động, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 10 tháng 10 năm 1961;
NGHỊ ĐỊNH
Điều 1Nay ban hành, kèm theo Nghị định này, điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước.
Điều 1.
Nay ban hành, kèm theo Nghị định này, điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước.
Điều 2Điều lệ này thay thế tất cả những quy định trước đây về các chế độ có tính chất bảo hiểm xã hội.
Điều 2.
Điều lệ này thay thế tất cả những quy định trước đây về các chế độ có tính chất bảo hiểm xã hội.
Điều 3Bộ Lao động, Bộ Nội vụ và bộ Y tế quy định chi tiết thi hành điều lệ này.
Điều 3.
Bộ Lao động, Bộ Nội vụ và bộ Y tế quy định chi tiết thi hành điều lệ này.
Điều 4Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và Tổng Công đoàn Việt Nam hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành điều lệ này.
Điều 4.
Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và Tổng Công đoàn Việt Nam hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành điều lệ này.
Điều 5Điều lệ này thi hành kể từ ngày 01-01-1962.
Điều 5.
Điều lệ này thi hành kể từ ngày 01-01-1962.
T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Phạm Văn Đồng
ĐIỀU LỆ TẠM THỜI
VỀ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN,
VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC
(Ban hành kèm theo Nghị định số 218-CP ngày 27-12-1961
của Hội đồng Chính phủ)
LỜI NÓI ĐẦU
Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và suốt trong thời kỳ kháng chiến cho đến nay, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, Chính phủ đã luôn luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao động. Đối với công nhân, viên chức Nhà nước, đi đôi với việc cải tiến chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ trợ cấp mà thực chất là chế độ bảo hiểm xã hội, như: chế độ trợ cấp khi ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp khi chết, đồng thời đã xây dựng nhiều bệnh viện, bệnh xá, nhà an dưỡng, điều dưỡng, nhà gửi trẻ v.v... Các chế độ và sự nghiệp có tính chất bảo hiểm xã hội này tuy mới chỉ là bước đầu nhưng đã có tác dụng rõ rệt; đã giải quyết được một phần những khó khăn trong sinh hoạt của công nhân, viên chức Nhà nước, làm cho anh chị em phấn khởi đẩy mạnh sản xuất và công tác.
Từ ngày hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá, chúng ta đang bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, lấy công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm. Số công nhân, viên chức sẽ ngày càng tăng lên. Các chế độ trợ cấp xã hội hiện hành cần được bổ sung và cải tiến để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới, nhằm phục vụ yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đáp ứng yêu cầu không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức Nhà nước.
Điều 32của Hiến pháp được Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959 đã ghi rõ quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động. Điều lệ tạm thời này về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước là bước đầu thực hiện Điều nói trên của Hi
Điều 32 của Hiến pháp được Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959 đã ghi rõ quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động. Điều lệ tạm thời này về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước là bước đầu thực hiện Điều nói trên của Hiến pháp.
Điều lệ tạm thời này về bảo hiểm xã hội bảo đảm những điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần cho công nhân, viên chức Nhà nước trong những trường hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động và áp dụng thống nhất cho toàn thể công nhân, viên chức Nhà nước. Các chế độ đãi ngộ về bảo hiểm xã hội trong Điều lệ tạm thời này chủ yếu dựa vào nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm khuyến khích mọi người tăng cường kỷ luật lao động, đẩy mạnh sản xuất, góp phần ổn định lực lượng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân.
Điều lệ tạm thời này về các chế độ bảo hiểm xã hội được xây dựng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị và xã hội hiện nay của nước ta, không những có tác dụng động viên công nhân, viên chức và nhân dân lao động ở miền Bắc phấn khởi nỗ lực sản xuất và công tác, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn làm cho công nhân, viên chức và nhân dân lao động ở miền Nam thấy rõ tính chất hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, do đó càng tăng thêm tin tưởng, tăng cường đoàn kết và đấu tranh đòi quyền sinh sống hàng ngày, đồng thời kiên quyết đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
CHƯƠNG I: NGUYÊN TẮC CHUNG
Điều 1Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần cho công nhân, viên chức Nhà nước trong những trường hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động, nhằm giảm nhẹ khó khăn trong đời sống, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của công nhân, viên chức.
Điều 1.
- Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần cho công nhân, viên chức Nhà nước trong những trường hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động, nhằm giảm nhẹ khó khăn trong đời sống, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của công nhân, viên chức.
Điều 2
Điều 2.-
Mức độ đãi ngộ về bảo hiểm xã hội được quy định căn cứ vào sự cống hiến, thời gian công tác, điều kiện làm việc, đồng thời cũng căn cứ vào tình trạng mất sức lao động nhiều hay ít của mỗi công nhân, viên chức trong từng trường hợp. Trợ cấp về bảo hiểm xã hội nói chung thấp hơn tiền lương của công nhân, viên chức khi đang làm việc, nhưng mức thấp nhất cũng bằng mức sinh hoạt tối thiểu.
Điều 3
Điều 3.-
Mọi đãi ngộ về bảo hiểm xã hội quy định trong Điều lệ tạm thời này đều do quỹ bảo hiểm xã hội của Nhà nước đài thọ.
Điều 4
Điều 4.-
Điều lệ tạm thời này áp dụng cho toàn thể công nhân, viên chức Nhà nước ở các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, kể cả cán bộ, công nhân hoạt động ở các cơ quan của các đoàn thể nhân dân, không phân biệt dân tộc, nam, nữ, quốc tịch, trừ những người làm việc tạm thời, theo thời vụ, theo hợp đồng trong một thời gian ngắn.
Điều lệ tạm thời này cũng áp dụng cho công nhân, viên chức ở:
- Những xí nghiệp công tư hợp doanh đã áp dụng chế độ tiền lương như xí nghiệp quốc doanh;
- Những xí nghiệp công nghiệp địa phương đã có kế hoạch lao động tiền lương ghi trong kế hoạch Nhà nước.
Đối với các cán bộ, nhân viên công tác ở các tổ chức dân lập sẽ có quy định riêng.
Điều 5
Điều 5.-
Công nhân, viên chức Nhà nước đang bị án phạt giam không được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội quy định trong Điều lệ tạm thời này.
CHƯƠNG II: CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TIẾT 1.- CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC
KHI ỐM ĐAU
Điều 6
Điều 6.-
Công nhân, viên chức Nhà nước khi ốm đau được khám bệnh và điều trị tại những cơ sở y tế của Nhà nước. Mọi chi phí về khám bệnh, thuốc men và bồi dưỡng do Nhà nước đài thọ.
Bộ Y tế, Bộ Lao động và Bộ Nội vụ sẽ quy định chi tiết về chế độ chữa bệnh cho công nhân, viên chức Nhà nước.
Điều 7
Điều 7.-
Trong suốt thời gian nghỉ việc vì ốm đau, được thầy thuốc chứng nhận, cho đến khi khỏi bệnh trở lại làm việc hay được xác nhận là không còn khả năng làm việc nữa, công nhân, viên chức Nhà nước không hưởng lương mà hưởng trợ cấp quy định như sau:
Loại
Thời gian công tác liên tục
Mức trợ cấp được hưởng
Ba tháng đầu
Từ tháng thứ tư trở đi
I
Từ 1 đến hết 3 năm
70% lương kể cả phụ cấp (nếu có)
60% lương kể cả phụ cấp ( nếu có)
II
Từ trên 3 năm đến hết 7 năm
80% lương kể cả phụ cấp ( nếu có)
70% lương kể cả phụ cấp ( nếu có)
III
Từ trên 7 năm đến hết 12 năm
90% lương kể cả phụ cấp ( nếu có)
80% lương kể cả phụ cấp ( nếu có)
IV
Trên 12 năm
100% lương kể cả phụ cấp ( nếu có)
90% lương kể cả phụ cấp ( nếu có)
Công nhân viên chức Nhà nước công tác dưới 1 năm được trợ cấp bằng70% lương và phụ cấp (nếu có) trong thời hạn nhiều nhất là 3 tháng. Hết hạn này mà bệnh chưa khỏi và nếu gặp khó khăn túng thiếu đương sự sẽ được giúp đỡ như nhân dân (do quỹ cứu tế xã hội của địa phương đài thọ). Đối với công nhân, viên chức Nhà nước đang tập sự, sẽ có quy định riêng.
Điều 8Công nhân, viên chức là anh hùng lao động, anh hùng quân đội chuyển ngành, thương binh, người công tác ở miền núi và ở các nghề đặc biệt nặng nhọc, khi ốm đau, được hưởng chế độ ưu đãi như sau:
Điều 8.
- Công nhân, viên chức là anh hùng lao động, anh hùng quân đội chuyển ngành, thương binh, người công tác ở miền núi và ở các nghề đặc biệt nặng nhọc, khi ốm đau, được hưởng chế độ ưu đãi như sau:
- Công nhân, viên chức Nhà nước là anh hùng lao động, anh hùng quân đội chuyển ngành được trợ cấp theo loại IV.
- Công nhân, viên chức Nhà nước là thương binh và công nhân, viên chức công tác ở miền núi hay ở nghề đặc biệt nặng nhọc được trợ cấp theo loại trên liền với loại mà mình được hưởng theo quy định về thời gian công tác.
Bộ Lao động, Bộ Nội vụ và Bộ Y tế sẽ quy định cụ thể những vùng miền núi và các nghề đặc biệt nặng nhọc được áp dụng chế độ ưu đãi trên.
Điều 9
Điều 9.-
Mức trợ cấp thấp nhất cho công nhân, viên chức Nhà nước khi ốm đau là 22 đồng một tháng.
Điều 10Sau khi điều trị, nếu còn sức khoẻ để làm việc, công nhân, viên chức sẽ được tiếp tục làm công việc cũ hoặc được bố trí công việc thích hợp, và hưởng lương theo công việc mới. Nếu vì kém sức khoẻ mà phải thôi việc, thì được hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động nếu có đủ điều kiện.
Điều 10.
- Sau khi điều trị, nếu còn sức khoẻ để làm việc, công nhân, viên chức sẽ được tiếp tục làm công việc cũ hoặc được bố trí công việc thích hợp, và hưởng lương theo công việc mới. Nếu vì kém sức khoẻ mà phải thôi việc, thì được hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động nếu có đủ điều kiện.
Điều 11
Điều 11.-
Công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn không thuộc diện hưởng chế độ trợ cấp tai nạn lao động cũng được đãi ngộ như khi ốm đau.
Điều 12
Điều 12.-
Nữ công nhân, viên chức được thầy thuốc chứng nhận phải nghỉ việc để trông nom con nhỏ ốm đau, được hưởng trong một thời gian nhất định mức trợ cấp như khi bản thân ốm đau.
Trường hợp mẹ chết, con nhỏ ở với cha, hay vì điều kiện đặc biệt mẹ không thể trông nom con, thì người cha (là công nhân, viên chức Nhà nước) phải nghỉ việc để trông nom con ốm cũng được hưởng khoản trợ cấp này.
Bộ Lao động và Bộ Nội vụ sẽ quy định chi tiết về việc thi hành điều khoản này.
TIẾT 2.- CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ NỮ CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC KHI CÓ THAI VÀ KHI ĐẺ
Điều 13
Điều 13.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước được hưởng quyền lợi khám thai ở các cơ sở y tế Nhà nước.
Điều 14
Điều 14.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước được nghỉ trước và sau khi đẻ tất cả là 60 ngày (kể cả chủ nhật và ngày lễ).
Nếu đẻ sinh đôi thì được nghỉ thêm 10 ngày, sinh ba được thêm 20 ngày.
Điều 15
Điều 15.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước làm nghề đặc biệt nặng nhọc, ngoài thời gian nghỉ đẻ quy định chung ở Điều 14, được nghỉ thêm 15 ngày.
Bộ Lao động, Bộ Nội vụ và Bộ Y tế sẽ quy định cụ thể những nghề đặc biệt nặng nhọc được nghỉ thêm nói trên đây.
Điều 16Nữ công nhân, viên chức Nhà nước đẻ non, có thầy thuốc chứng nhận, cũng được nghỉ 60 ngày.
Điều 16.
- Nữ công nhân, viên chức Nhà nước đẻ non, có thầy thuốc chứng nhận, cũng được nghỉ 60 ngày.
Điều 17
Điều 17.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước bị sảy thai, tuỳ theo tình hình sức khoẻ được nghỉ như sau:
- Sảy thai từ 3 tháng tuổi trở xuống, nghỉ từ 7 đến 15 ngày;
- Sảy thai trên 3 tháng, nghỉ từ 15 đến 30 ngày.
Người làm nghề đặc biệt nặng nhọc bị sảy thai được nghỉ thêm từ 3 đến 10 ngày.
Số ngày cần nghỉ này do thầy thuốc định.
Điều 18
Điều 18.-
Trong thời gian nghỉ đẻ và nghỉ vì đẻ non hay sảy thai, nữ công nhân, viên chức Nhà nước được hưởng trợ cấp thay tiền lương bằng 100% lương kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có).
Điều 19
Điều 19.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước khi đẻ hay đẻ non, được hưởng:
-Tiền bồi dưỡng: 12 đồng.
- Tiền sắm tã lót: 8 đồng.
Nếu đẻ sinh đôi, sinh ba thì được hưởng tiền bồi dưỡng và tã lót gấp đôi, gấp ba.
Điều 20
Điều 20.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước khi sảy thai được điều trị và bồi dưỡng ở bệnh viện theo chế độ đãi ngộ khi ốm đau. Nếu vì xa bệnh viện, bệnh xá, phải nghỉ ở nhà, thì được trợ cấp một khoản tiền bồi dưỡng là 6 đồng.
Điều 21
Điều 21.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước vì đẻ hay vì sảy thai mà sức khoẻ suy nhược, được thầy thuốc chứng nhận là không thể trở lại làm việc ngay khi hết hạn nghỉ như đã quy định ở trên, thì được đãi ngộ như khi đau ốm.
Điều 22
Điều 22.-
Nữ công nhân, viên chức Nhà nước sau khi đẻ bị mất sữa, hoặc không được cho con bú vì mắc bệnh truyền nhiễm, được trợ cấp mỗi tháng 10 đồng cho mỗi đứa con tới khi con đủ 10 tháng.
- Nếu nữ công nhân, viên chức Nhà nước đẻ sinh đôi, sinh ba, dù có sữa cho con bú, cũng được hưởng khoản trợ cấp nói trong Điều 22 này cho con thứ hai trở đi.
- Đối với nữ công nhân, viên chức Nhà nước chết, hoặc nam công nhân, viên chức Nhà nước có vợ không phải là công nhân, viên chức Nhà nước chết, khi con chưa được 10 tháng, thì người nuôi con được hưởng trợ cấp này.
Bộ Y tế, Bộ Lao động và Bộ Nội vụ sẽ quy định chi tiết thi hành chế độ này.
TIẾT 3.CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC KHI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG HAY BỆNH NGHỀ NGHIỆP.
Điều 23
Điều 23.-
Công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động được hưởng chế độ đãi ngộ quy định trong tiết này.
Bộ Lao động và Bộ Nội vụ sẽ quy định cụ thể những trường hợp được hưởng chế độ đãi ngộ về tai nạn lao động.
Điều 24
Điều 24.-
Tiền thuốc men, bồi dưỡng, tiền phí tổn về tàu xe đi bệnh viện và ở bệnh viện về cho công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động trong thời gian điều trị, kể cả thời gian điều trị khi vết thương tái phát, do Nhà nước đài thọ.
Điều 25
Điều 25.-
Công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp thay tiền lương bằng 100% lương kể cả phụ cấp (nếu có) trong suốt thời gian điều trị cho đến khi khỏi bệnh hay thành cố tật.
Điều 26
Điều 26.-
Công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động được xếp hạng thương tật và hưởng trợ cấp quy định như sau, cho đến khi thương tật được chữa lành hay đến khi chết (trừ trường hợp được về hưu nói trong Điêù 52 của Điều lệ này):
- Hạng 1 mất từ 5 đến 30% sức lao động, được trợ cấp một lần bằng từ 1 đến 4 tháng lương chính khi bị nạn.
- Hạng 2 mất từ 31 đến 40% sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 7% lương chính khi bị nạn.
- Hạng 3 mất từ 41 đến 50% sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 10% lương chính khi bị nạn.
- Hạng 4 mất từ 51 đến 60% sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 15% lương chính khi bị nạn.
- Hạng 5 mất từ 61 đến 70% sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 25% lương chính khi bị nạn.
- Hạng 6 mất từ 71 đến 80% sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 50% lương chính khi bị nạn.
- Hạng 7 mất từ 81 đến 90% sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 60% lương chính khi bị nạn.
- Hạng 8 mất từ 91 đến 100% sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 70% lương chính khi bị nạn.
Nếu do tai nạn, người bị tai nạn lao động cần dùng chân tay giả, mắt giả, kính, máy điếc v.v... thì được cấp phát không phải trả tiền.
Điều 27
Điều 27.-
Hội đồng khám xét thương tật có nhiệm vụ xếp hạng thương tật cho công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động.
Bộ Y tế, Bộ Lao động và Bộ Nội vụ sẽ quy định về tổ chức quyền hạn, nhiệm vụ của Hội đồng khám xét thương tật cho công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động.
Điều 28
Điều 28.-
Công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động mất từ 70% sức lao động trở xuống, nếu không thể tiếp tục công việc cũ, thì được bố trí công việc mới hợp với khả năng và hưởng lương theo công việc mới.
Công nhân, viên chức Nhà nước, vì lợi ích chung đã có những hành động hy sinh dũng cảm mà bị tai nạn lao động nếu do thương tật mà khả năng lao động giảm sút, và lương mới cộng với trợ cấp thương tật hàng tháng không bằng lương cũ, thì được hưởng thêm một khoản phụ cấp chênh lệch cho bằng lương cũ. Nếu trở thành tàn phế, phải thôi việc, thì được hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng bằng 100% lương chính khi bị nạn.
Điều 29
Điều 29.-
Đối với công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động không còn khả năng làm việc, nếu mức trợ cấp hàng tháng tính theo Điều 26 trên đây không đủ 22 đồng thì được nâng lên bằng mức đó.
Ngoài trợ cấp thương tật, những người tàn phế cần phải có người phục vụ được thêm một khoản trợ cấp bằng 10% lương chính.
Người bị tai nạn lao động không có nơi nương tựa sẽ được thu nhận vào nhà an dưỡng. Khi vào nhà an dưỡng, nếu trợ cấp thương tật thấp hơn mức sinh hoạt thấp nhất của nhà an dưỡng, thì được nâng lên bằng mức đó.
Điều 30
Điều 30.-
Công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động nói ở Điều 29, khi mới thôi việc được trợ cấp thêm một khoản tiền lĩnh làm một lần, bằng một tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có).
Khi thôi việc, nếu công nhân, viên chức nhà nước bị tai nạn lao động đang được hưởng trợ cấp con, thì vẫn được tiếp tục lĩnh trợ cấp của những đứa con đó theo chế độ hiện hành.
Khi ốm đau, công nhân, viên chức Nhà nước bị tai nạn lao động đã thôi việc được khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế thuộc địa phương nơi cư trú, được hưởng chế độ thuốc men, bồi dưỡng; khi chết được trợ cấp tiền chôn cất theo quy định ở Điều 55, và những thân nhân do người đó khi còn sống phải nuôi dưỡng được hưởng tiền tuất hàng tháng quy định ở Điều 61.
Điều 31
Điều 31.-
Công nhân, viên chức Nhà nước bị cố tật vì tai nạn lao động, nếu được chuyển sang học nghề mới, thì trong thời gian học nghề, ngoài phụ cấp thương tật hàng tháng, được hưởng sinh hoạt phí theo chế độ đối với công nhân, viên chức được cử đi học nghề. Nhưng cả hai khoản cộng lại không được quá 100% lương chính khi bị nạn. Sau khi học thành nghề, sẽ hưởnglương theo công việc mới và trợ cấp thương tật hàng tháng của mình.
Điều 32
Điều 32.-
Khi công nhân, viên chức Nhà nước chết vì tai nạn lao động hay do vết thương vì tai nạn lao động cũ, thì thân nhân được trợ cấp tiền chi phí về chôn cất và tiền tuất quy định ở các Điều 55, 56, 58 của Điều lệ tạm thời này.
Điều 33
Điều 33.-
Các Điều quy định trong tiết này áp dụng chung cho mọi công nhân, viên chức Nhà nước, kể cả những người làm việc tạm thời theo thời vụ, theo hợp đồng trong một thời gian ngắn.
Những người làm việc theo lối khoán tự do, không do đơn vị sử dụng quản lý về mặt nhân sự, về điều kiện và phương tiện làm việc, không thuộc phạm vi áp dụng của tiết này.
Điều 34
Điều 34.-
Bộ Y tế, Bộ Lao động và Bộ Nội vụ sẽ quy định chế độ đãi ngộ về các loại bệnh nghề nghiệp.
TIẾT 4.- CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC THÔI VIỆC VÌ MẤT SỨC LAO ĐỘNG.
Điều 35
Điều 35.-
Công nhân, viên chức Nhà nước mất sức lao động vì đau ốm, vì tai nạn không thuộc diện hưởng chế độ trợ cấp về tai nạn lao động, hoặc vì già, yếu nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp hưu trí, phải thôi việc, khi đã công tác liên tục từ 5 năm trở lên, được hưởng trợ cấp quy định như sau cho đến khi sức khoẻ hồi phục hay chết:
- Nếu thời gian công tác liên tục đủ 5 năm; thì được trợ cấp hàng tháng bằng 35% lương chính;
- Nếu thời gian công tác liên tục trên 5 năm, thì từ năm thứ 6 đến năm thứ 10 mỗi năm thêm 1% lương chính và từ năm thứ 11 trở đi mỗi năm thêm 2% lương chính; nhưng nhiều nhất trợ cấp hàng tháng không quá 65% lương chính;
- Người tàn phế cần phải có người phục vụ được hưởng thêm hàng tháng một khoản trợ cấp bằng 10% lương chính;
- Nếu trước khi thôi việc, vì sức khoẻ sút kém phải chuyển sang làm việc nhẹ, hưởng lương thấp hơn trước, thì được lấy mức lương của công việc trước khi chuyển sang việc nhẹ để tính trợ cấp hàng tháng.
Điều 36
Điều 36.-
Mức trợ cấp thấp nhất cho công nhân, viên chức nhà nước có thời gian công tác liên tục từ 5 năm trở lên mất sức lao động phải thôi việc là 15 đồng một tháng.
Điều 37
Điều 37.-
Công nhân, viên chức Nhà nước mất sức lao động phải thôi việc, khi mới thôi việc được trợ cấp thêm một khoản tiền bằng một tháng lương kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có).
Điều 38
Điều 38.-
Công nhân, viên chức Nhà nước có thời gian công tác liên tục từ 5 năm trở lên mất sức lao động đã thôi việc, khi ốm đau được khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế thuộc địa phương nơi cư trú, được hưởng chế độ thuốc men và bồi dưỡng; khi chết được trợ cấp tiền chi phí về chôn cất theo quy định ở Điều 55 của Điều lệ tạm thời này.
Nếu không có nơi nương tựa, thì được thu nhận vào nhà an dưỡng, và được hưởng chế độ của nhà an dưỡng như quy định ở Điều 29.
Điều 39
Điều 39.-
Tính từ ngày thôi việc, cứ hai năm một lần, công nhân, viên chức nhà nước mất sức lao động sẽ được Hội đồng Giám định y khoa nơi cư trú khám lại. Căn cứ vào kết luận của Hội đồng Giám định y khoa, cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở địa phương sẽ quyết định việc ngừng hoặc tiếp tục trợ cấp mất sức lao động.
Điều 40
Điều 40.-
Công nhân, viên chức Nhà nước mất sức lao động phải thôi việc, mà đã công tác liên tục dưới 5 năm, được trợ cấp một lần, cứ mỗi năm bằng một tháng lương; nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có).
Điều 41
Điều 41.-
Những công nhân, viên chức nhà nước mất sức lao động đã thôi việc và đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Thông tư số 13-TTg ngày 7 tháng 1 năm 1960, nếu tính đến ngày thôi việc có đủ điều kiện quy định ở Điều 35, thì nay được hưởng chế độ trợ cấp quy định ở tiết này.
Bộ Lao động và Bộ Nội vụ sẽ quy định chi tiết thi hành chế độ này.
TIẾT 5.- CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP HƯU TRÍ
Điều 42Công nhân, viên chức nhà nước nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi được về hưu. Ngoài điều kiện tuổi nói trên công nhân, viên chức có đủ điều kiện sau đây được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí:
Điều 42.
- Công nhân, viên chức nhà nước nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi được về hưu. Ngoài điều kiện tuổi nói trên công nhân, viên chức có đủ điều kiện sau đây được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí:
- Nam: Thời gian công tác nói chung 25 năm, thời gian công tác liên tục 5 năm.
- Nữ: Thời gian công tác nói chung 20 năm, thời gian công tác liên tục 5 năm.
Điều 43
Điều 43.-
Công nhân, viên chức nhà nước nam 55 tuổi, có thời gian công tác nói chung 20 năm, thời gian công tác liên tục 5 năm, nữ 50 tuổi, có thời gian công tác nói chung 15 năm, thời gian công tác liên tục 5 năm, làm việc đặc biệt nặng nhọc hay có việc hại sức khoẻ liền trong 10 năm, cũng được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí.
Bộ Lao động, Bộ Nội vụ và Bộ Y tế sẽ quy định cụ thể những công việc đặc biệt nặng nhọc và những việc có hại sức khoẻ nói ở điều này.
79 điều
Trích dẫn văn bản này
Về việc ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức nhà nước (Công báo Chính phủ). Truy cập qua LawPlayer, https://lawplayer.com/vn/act/vn-vbpl-1354
Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật (vbpl.vn), Bộ Tư pháp Việt Nam. Official legal texts are excluded from copyright under Article 8 of the Law on Intellectual Property of Vietnam. 再發布須標示來源(Công báo 條款)。