Điều 39. Các loại nổ mìn khác
1. Nổ mìn thăm dò địa chấn ở đất liền
a) Khi nổ đồng thời một số lỗ khoan lớn trong đất đá không ổn định, cho phép nạp mìn vào lỗ khoan ngay sau khi hoàn thành việc khoan lỗ khoan. Khoảng cách giữa các lỗ khoan được xác định trong thiết kế hoặc hộ chiếu nổ mìn. Phải bố trí thợ mìn canh gác, bảo vệ các lỗ khoan đã nạp VLNCN. Trong thời gian nạp, người không liên quan đến việc nạp mìn phải rút ra ngoài giới hạn vùng nguy hiểm.
b) Chỉ cho phép những người của đội mìn có mặt ở trong trạm khởi nổ. Trường hợp trạm khởi nổ đặt trên ôtô, máy kéo, rơ moóc, cho phép người điều khiển phương tiện ngồi trong buồng lái.
c) Trạm khởi nổ phải cách vị trí nổ theo quy định tại khoản 7 Điều 5 của Quy chuẩn này, trạm phải được bảo vệ thường xuyên. Không được để các vật dụng không có liên quan tới việc nổ mìn ở trong trạm.
d) Cho phép đặt các trạm vô tuyến trong 01 ngăn riêng sử dụng để thăm dò địa chấn trong trạm khởi nổ. Trạm vô tuyến có công suất lớn, kiểu thông thường cùng với máy phát điện phải đặt ở ngoài giới hạn vùng nguy hiểm theo quy định tại Phụ lục 6 của Quy chuẩn này.
đ) Trước lúc trạm vô tuyến bắt đầu làm việc, phải kiểm tra xem xét để không có hiện tượng rò điện.
e) Không được đưa đường dây điện của mạng nổ mìn vào buồng đặt trạm vô tuyến.
g) Không được để VLNCN tại vị trí khu vực thi công nổ lớn hơn yêu cầu sử dụng trong một ca của đội thăm dò. Cho phép bảo quản VLNCN sử dụng trong 03 ngày đêm ở ngoài giới hạn vùng nguy hiểm và phải được canh gác, bảo vệ theo quy định.
h) Không được sử dụng các dây dẫn (dây của mạng nổ mìn, dây điện thoại...) có vỏ bọc cách điện đã bị hư hỏng, dây đấu vào máy không có phích cắm chuyên dùng.
k) Chỉ được sử dụng máy nổ mìn chuyên dùng để khởi nổ các phát mìn.
l) Sau khi chuẩn bị xong các phát mìn, dây dẫn của kíp điện phải quấn chặt xung quanh phát mìn.
m) Chỉ được sử dụng dây điện mềm có 02 lõi để làm đường dây dẫn mạng điện nổ mìn và phải được nối với nhau sau khi đã đưa phát mìn xuống lỗ khoan.
n) Khi tiến hành công tác nổ mìn, thăm dò địa chấn chỉ được sử dụng 01 đường dây nổ mìn chính. Ở cả hai đầu phải có dấu hiệu để phân biệt với các đường dây khác.
o) Phải dùng dây ròng hoặc sào có móc làm bằng vật liệu không phát sinh tia lửa để đưa các phát mìn xuống lỗ khoan, không được quẳng vứt làm va đập các phát mìn, phải theo quy định tại Điều 34 của Quy chuẩn này. Không được để dây dẫn chính bị căng khi đưa phát mìn xuống lỗ.
Trước khi đưa phát mìn xuống lỗ khoan, phải sử dụng dưỡng đo để kiểm tra đường kính toàn bộ lỗ khoan. Đường kính của dưỡng đo phải lớn hơn đường kính thỏi thuốc nổ.
Trường hợp nạp phát mìn xuống lỗ khoan bị kẹt, phải lựa chiều kéo lên và chỉ sau khi thông lỗ và kiểm tra, mới được nạp lại phát mìn. Trong khi thông lỗ phải ngắt phát mìn ra khỏi đường dây dẫn chính và đưa đến chỗ an toàn. Trường hợp không thể lấy phát mìn lên, phải thủ tiêu phát mìn này theo quy định tại điểm s khoản này.
p) Không được quấn dây dẫn chính xung quanh kíp điện, trừ trường hợp sử dụng 01 kíp nổ điện đặt trên mặt đất để đánh dấu thời điểm nổ.
q) Những công việc có liên quan tới việc nổ phát mìn treo trong không khí, đặt trên mặt đất hoặc trong hồ chứa nước phải tiến hành theo thiết kế được phê duyệt theo quy định và thực hiện bảo vệ hải sản theo quy định tại Luật Thủy sản.
r) Không được:
- Người đi đến lỗ khoan trước 05 min kể từ lúc phát mìn trong lỗ khoan nổ;
- Người xuống giếng hoặc hào sâu hơn 3,0 m trước lúc thông gió hoàn toàn; không được sớm hơn 30 min sau khi nổ mìn;
- Khoan tiếp vào lỗ khoan sau khi nổ hoặc khi có mìn câm trong lỗ đó.
s) Xử lý mìn câm tiến hành bằng các cách sau:
- Cẩn thận lấy phát mìn ra khỏi lỗ và đem hủy bằng cách nổ ở chỗ an toàn;
- Trường hợp không lấy được phát mìn ra, nạp thêm phát mìn vào lỗ khoan và cho nổ theo quy định;
- Các phát mìn bị câm do ẩm ướt phải được xử lý theo quy định tại Điều 30 của Quy chuẩn này.
2. Nổ mìn thăm dò địa chấn trên sông biển
a) Nổ mìn thăm dò địa chấn trên biển phải thực hiện bảo vệ hải sản theo quy định tại Luật Thủy sản, trừ việc thăm dò được tiến hành bằng phương pháp kích thích sóng địa chấn.
b) Không được tiến hành công tác nổ mìn thăm dò địa chấn trong lúc có sương mù, lúc trời tranh tối tranh sáng, ban đêm (trừ trường hợp sử dụng đường dây chính kiểu nổi) và khi có sóng trên cấp 4.
c) Các tàu thuyền sử dụng trong công tác thăm dò địa chấn có sử dụng nổ mìn phải đăng ký tại cơ quan đăng kiểm theo quy định hiện hành.
d) Cho phép tàu đặt trạm địa chấn kéo theo trạm khởi nổ đặt trên các thuyền có mái chèo hoặc các loại tàu khác. trên mỗi trạm khởi nổ phải có phao cấp cứu cá nhân đủ cho số người có mặt trên trạm.
đ) Khoảng cách an toàn (Rat) tính theo tác động của sóng va đập đối với trạm khởi nổ khi nổ mìn tính theo công thức:
(m)
trong đó q là khối lượng của phát mìn, tính bằng kg.
Trong mọi trường hợp Rat không được nhỏ hơn 50 m. Khi làm việc trên biển khoảng cách từ tàu đặt trạm địa chấn đến vị trí nổ mìn không được nhỏ hơn 150 m.
e) Trong thời gian trạm khởi nổ nổi làm việc, chỉ cho phép các tàu thuyền khác đến trạm khởi nổ theo tín hiệu của người thợ mìn. Người thợ mìn chỉ được phát tín hiệu này trong lúc trạm nổ không nổ mìn hoặc không làm các công việc khác có liên quan tới VLNCN.
h) Chỉ bốc dỡ VLNCN từ phương tiện thủy sang phương tiện thủy khác khi sóng nhỏ hơn cấp 4 và các phương tiện đã liên kết và neo đậu chắc chắn.
k) Người không có liên quan tới công việc của trạm nổ phải rời khỏi trạm nổ khi tiến hành thi công nổ mìn để thăm dò địa chấn.
l) Trong thời gian làm việc phải đảm bảo liên lạc thông suốt giữa trạm địa chấn và trạm khởi nổ.
m) Các thiết bị dùng để nổ mìn phải được bảo vệ để tránh nước ngấm vào, VLNCN phải được bảo quản ở ngăn riêng đặc biệt.
n) Trạm khởi nổ không được di chuyển khỏi vị trí khi phát mìn chưa chìm đến độ sâu quy định. Không được kéo lê phát mìn theo đáy sông, hồ, biển.
o) Chỉ được tiến hành kiểm tra mạng điện nổ mìn, nối đường dây chính với nguồn điện và khởi nổ sau khi trạm khởi nổ đã đến vị trí an toàn tính theo tác động của sóng va đập nhưng không nhỏ hơn 50 m.
o) Khi sử dụng đường dây nổ mìn loại nổi phải thực hiện các quy định sau:
- Cả hai bên mạn tàu đặt trạm địa chấn phải có cầu thao tác để tiến hành lắp kíp vào phát mìn, nối phát mìn với vòng tiếp xúc và đưa phát mìn xuống nước. Sử dụng các máng đặc biệt từ cầu để phát mìn trượt xuống nước được dễ dàng;
- Đường dây chính mạng nổ mìn và đường dây của máy ghi địa chấn phải luôn cách nhau không dưới 10 m;
- Trên cầu thao tác chỉ được để một phát mìn;
- Phải sử dụng đường dây điện riêng để cấp điện cho đường dây chính nổ mìn, khoảng thời gian đóng điện không quá 10 s;
- Đường dây chính nổ mìn phải có công tắc nổ đặt trên cầu thao tác;
- Phải kiểm tra tính toán lại đường dây chính nổ mìn sau 10 ngày làm việc. Số liệu kiểm tra ghi vào sổ công tác của đội;
- Khi sử dụng đường dây chính nổ mìn kiểu nổi, cho phép sử dụng tuyến nổ mìn chỉ có 01 dây.
p) Khi sử dụng sự kích nổ bằng chất khí hoặc năng lượng của khí nén để làm nguồn kích thích dao động đàn hồi, khoảng cách an toàn sẽ được quy định trong một quy trình riêng.
3. Nổ mìn phá đá, công trình ở dưới nước
a) Nổ mìn phá đá, công trình ở dưới nước phải thực hiện bảo vệ hải sản, công trình thủy lợi theo quy định tại Luật Thủy sản, Luật Thủy lợi. Trước khi lập phương án nổ mìn, phải khảo sát kỹ vị trí, khu vực sẽ tiến hành nổ mìn để lựa chọn phương án phù hợp.
b) Thông báo bằng văn bản cho các tổ chức, cá nhân có công trình, phương tiện và tài sản nằm trong vùng nguy hiểm chậm nhất trước 01 ngày đêm về thời gian, địa điểm và tín hiệu quy ước khi nổ mìn.
c) Người được đưa xuống nước để tham gia nổ mìn phải biết bơi, sức khỏe tốt. Người trực tiếp thi công nổ mìn phải là thợ mìn hạng D theo quy định tại Phụ lục 15 của Quy chuẩn này.
d) Thuốc nổ sử dụng để nổ mìn dưới nước phải là loại thuốc nổ có khối lượng riêng lớn hơn 1,0 kg/dm3. Trường hợp sử dụng thuốc nổ không chịu nước, thuốc nổ phải được bọc vỏ bọc chống thấm nước. Không được sử dụng dây cháy chậm để nổ mìn phá đá, công trình dưới nước.
đ) Thuốc nổ, phụ kiện nổ cho từng vị trí nạp mìn phải được phân chia theo thứ tự được ghi tại hộ chiếu nổ mìn và phải sắp xếp gọn gàng trên thuyền đảm bảo không cản trở việc tổ chức thi công.
e) Thuyền phục vụ thi công nổ mìn phải là thuyền có tải trọng không nhỏ hơn 500 kg, được trang bị phao cứu sinh đủ cho số người có mặt trên thuyền. Chỉ được chở người trực tiếp thi công nổ mìn và VLNCN của 01 đợt nổ mìn cùng các dụng cụ phục vụ, tổng khối lượng chở không được lớn hơn 2/3 tải trọng của thuyền.
g) Khi nổ phát mìn treo lơ lửng phải có biện pháp để cố định phát mìn đúng vị trí thiết kế nổ, mỗi phát mìn phải được buộc vào phao (không được sử dụng dây mạng nổ mìn để treo phát mìn vào phao).
h) Các vị trí lỗ khoan, vị trí sẽ đặt thuốc nổ ốp trực tiếp vào đá, công trình phải được đánh dấu để thi công và có biện pháp bảo vệ để tránh bị bồi lắng, lấp đầy sau khi khoan tạo lỗ hoặc bóc lớp phủ bề mặt.
k) Đầu trên của các loại dây dẫn đến phát mìn được buộc vào phao, nhưng chỉ buộc từng phát một sau khi đã nạp thuốc, nhồi bua (nếu có). Phao khi đã được buộc phải ghi theo đúng số thứ tự của từng vị trí nạp thuốc nổ của hộ chiếu nổ mìn, trường hợp nổ ở 01 vị trí thì không phải ghi.
l) Khi nổ mìn điện, mạng điện phải lắp ở trên bờ và sau đó xếp toàn bộ từng nhánh riêng lên thuyền đưa đến địa điểm nổ để lắp. Chỉ được kiểm tra mạng điện khi mọi người đã lên thuyền và ra vị trí an toàn cách chỗ nổ mìn lớn hơn 100 m.
m) Khi thực hiện nổ các phát mìn, không được có người ở dưới nước trong vòng bán kính theo quy định sau:
- Khối lượng thuốc nổ nhỏ hơn 1 kg thì bán kính nhỏ nhất là 100 m;
- Khối lượng thuốc nổ từ 1 kg đến 10 kg thì bán kính nhỏ nhất là 500 m;
- Khối lượng thuốc nổ từ 10 kg đến 50 kg thì bán kính nhỏ nhất là 1.000 m;
- Khối lượng thuốc nổ trên 50 kg thì bán kính nhỏ nhất là 2.000 m.
Khi nổ trên 10 kg thuốc nổ ở những đoạn sông gấp khúc thì khoảng cách trên có thể giảm đi 1/2.
n) Trước khi nổ mìn phải có người gác, treo tín hiệu. Vị trí treo tín hiệu phải cách chỗ nổ mìn theo quy định tại Bảng 1 của Quy chuẩn này. Cấm tàu thuyền qua lại vùng nguy hiểm.
4. Nổ mìn để phá vỡ kim loại và kết cấu kim loại
a) Cho phép nổ mìn để phá vỡ kim loại và các kết cấu kim loại tại một khu vực riêng (nổ trong buồng bọc thép, trên bãi trống, nơi có kết cấu kim loại cần phá) và phải có biện pháp đảm bảo an toàn được phê duyệt.
b) Cho phép bảo quản bằng cách đặt VLNCN trong các chỗ sâu trong đất có mái che, chắc chắn và ở cách vị trí nổ mìn không nhỏ hơn 200 m số lượng VLNCN sử dụng trong 01 ngày tại khu vực riêng.
c) Phải khởi nổ bằng điện hoặc dây nổ khi đồng thời nổ một số phát mìn.
Đối với trường hợp khởi nổ bằng điện, phần dây điện đi từ buồng bọc thép ra ngoài không được để tiếp xúc với phần kim loại của buồng thép. Phải sử dụng dây dẫn có vỏ bọc cách điện và những vị trí nối phải được quấn cách điện. Khi làm việc ở trong buồng bọc thép cho phép sử dụng nguồn điện có điện áp không lớn hơn 12 V để chiếu sáng. Trước khi nạp mìn, phải cắt điện tháo dỡ hệ thống chiếu sáng ra khỏi buồng thép.
Những việc tiếp theo cần chiếu sáng, phải sử dụng đèn ác quy mỏ hoặc đèn pin.
d) Xung quanh buồng bọc thép ở khoảng cách không nhỏ hơn 30 m phải có tường rào.
Khối lượng và kết cấu nắp buồng bọc thép phải đảm bảo không bị bật ra hoặc bị phá hủy khi mìn nổ. Trước khi đưa buồng thép vào vận hành và sau mỗi lần sửa chữa phải thử độ bền chắc của buồng bằng cách cho nổ ở trong đó một lượng thuốc nổ gấp đôi thiết kế cho phép.
Phải sử dụng cần cẩu để tháo hoặc lắp buồng bọc thép.
đ) Sau mỗi lần nổ mìn, buồng bọc thép phải được thông gió hết khí độc rồi mới cho người vào làm việc.
e) Trường hợp sử dụng ô xy để khoan kim loại, trước khi nạp mìn phải sử dụng nước làm mát lỗ khoan đến nhiệt độ không lớn hơn 80ºC, phải dọn sạch phôi do khoan bằng ô xy tạo ra.
g) Vật liệu nút bua phải là loại dễ lấy được ra khi phát mìn bị câm. Trường hợp có mìn câm phải thận trọng lấy hết phần bua ra rồi đưa một bao mìn mồi và cho nổ lại theo quy định.
h) Chỉ được nạp mìn lần thứ hai sau khi đã làm mát thành lỗ khoan đến nhiệt độ không lớn hơn 80 ºC.
k) Đường đi từ vị trí nổ mìn, đến nơi an toàn phải gọn gàng, sạch sẽ. Vị trí trú ẩn của người thợ mìn được quy định trong thiết kế không được gần hơn 100 m đối với nổ mìn trên mặt bằng và không được gần hơn 30 m đối với nổ mìn trong buồng bọc thép.
5. Nổ mìn để phá vỡ khối có nhiệt độ cao
a) Chỉ được sử dụng dây cháy chậm hoặc dây nổ để nổ mìn phá vỡ khối có nhiệt độ cao.
b) Không được nạp mìn vào các lỗ khoan khi nhiệt độ đáy lỗ khoan cao hơn 200 ºC.
Khi nhiệt độ lỗ khoan từ 80 ºC đến 200 ºC phát mìn, phải đặt trong vỏ cách nhiệt hoặc dùng loại thuốc nổ chịu nhiệt đã được phép đưa vào sử dụng. Để nổ mìn trong các khối có nhiệt độ cao có nhiệt độ đo ở phần đáy lỗ khoan cao hơn 40ºC chỉ được sử dụng thuốc nổ nhóm 1.5D.
Việc sử dụng thuốc nổ chịu nhiệt phải tuân theo quy chuẩn này và hướng dẫn của nhà sản xuất.
c) Khi nổ mìn để phá vỡ các "bướu' trong lò luyện kim thì chỗ nổ mìn phải đặt rào chắn làm bằng các cây gỗ xếp khít nhau. Dàn giáo thi công nổ mìn phải chắc chắn và có tay vịn.
Mỗi đợt nổ mìn để phá “bướu” trong lò luyện kim đều phải lập phương án nổ mìn theo Điều 32 của Quy chuẩn này.
d) Chỉ được nổ mìn để phá vỡ các khối có nhiệt độ cao sau khi đã thực hiện xong việc làm sạch không khí (lò không có khí độc) đã thử vỏ cách nhiệt của bao thuốc nổ bằng cách đưa vào lỗ khoan một vỏ bao, làm bằng amiăng trong đó đặt một ngòi mìn (không có thuốc nổ) nếu kíp nổ bị nổ trước 5 min thì phải tăng chiều dày của vỏ bao.
đ) Khi đo nhiệt độ ở đáy lỗ khoan thấp hơn 80 ºC thì cho phép không phải dùng vỏ bao cách nhiệt, riêng mìn mồi phải bọc giấy cẩn thận.
Thời gian nạp mìn không được kéo dài quá 04 min.
Khi nhiệt độ cao hơn 80ºC, toàn bộ phát mìn (kể cả mìn mồi) được đặt trong một vỏ cách nhiệt đã thử để đảm bảo sao cho thuốc nổ chỉ bắt đầu bị đốt nóng qua thành lỗ khoan sau khoảng thời gian không nhỏ hơn 04 min, kể từ khi nạp mìn. Việc nổ được tiến hành bằng dây cháy chậm có độ dài không dưới 60 cm. Không được xoắn, vặn dây cháy chậm.
e) Khi nhiệt độ đo ở đáy lỗ khoan thấp hơn 80ºC cho phép nạp và nổ đồng thời không lớn hơn 05 phát mìn. Trường hợp nhiệt độ từ 80 ºC đến 200 ºC cho phép nạp và nổ đồng thời không lớn hơn 02 phát mìn.
g) Thời gian liên tục nạp và nổ một nhóm các phát mìn không được quá 04 min, trừ trường hợp sử dụng thuốc nổ chịu nhiệt có quy định riêng.
Trường hợp đến 04 min thợ mìn không kịp nạp hết các lỗ khoan, Chỉ huy nổ mìn phải ra lệnh ngừng nạp, mọi người phải rút ra vị trí an toàn và cho nổ ngay. Việc nạp và nút lỗ mìn phải do 02 thợ mìn làm với sự có mặt của Chỉ huy mìn.
h) Khi nổ mìn bằng dây nổ, phải sử dụng dây đúp và 02 ngòi mìn, phần dây nổ nằm ngoài thỏi thuốc nổ trong lỗ khoan phải được bọc vỏ cách nhiệt đã được thử nghiệm trong thời gian 10 min ở nhiệt độ 200 ºC không bốc cháy, phát nổ.
k) Khi nổ mìn để phá xỉ trong các buồng kín mà nhiệt độ đo ở đáy lỗ khoan thấp hơn 200ºC, chỉ được nạp và nổ một phát mìn do 02 người thợ mìn cùng làm (01 người đưa phát mìn vào lò và sẽ đốt hai ngòi mìn, người thứ hai lấp cát nút lỗ). Phát mìn phải để trong vỏ cách nhiệt và có 02 ngòi mìn.
l) Để nút lỗ mìn, chỉ cho phép dùng cát đã sàng và đã sấy khô. Không được nén ép vào các vật liệt nút lỗ.
m) Không được sử dụng phương pháp nổ mìn ốp để phá các khối có nhiệt độ cao.
n) Ở phía trên các "bướu" trong lò cao, phải đặt một tấm che chắc chắn làm bằng các dầm chịu tải, trên đó đặt các tấm tôn dày hơn 20 mm hoặc xếp kín chéo nhau hai lượt gỗ tròn có đường kính lớn hơn 18 mm. Tất cả các lỗ gió, lỗ tháo xỉ phải được đậy kín bằng các tấm kim loại dày hơn 10 mm. Các máy làm lạnh kiểu đứng được bảo vệ bằng cách dựng hàng gỗ xếp khít nhau (đường kính lớn hơn 20 cm) hoặc các thanh tà vẹt liên kết với nhau bằng các móc sắt.
Lối tới chỗ "bướu" cần nổ phá không được nhỏ hơn 0,8 m x 1,5 m. Lối đi lại của người trong lò không được nhỏ hơn 0,75 m x 0,6 m. Lối đi lại không được có chướng ngạt vật. Phải đặt cầu ra vào lò để công nhân lên xuống dễ dàng.
Lối đi từ lò ra phải được che kín phía trên bằng gỗ. Mái che này phải rộng hơn cửa lò 2,0 m để tránh mảnh kim loại rơi.
o) Để chiếu sáng khi nạp mìn phải dùng đèn ác quy mỏ hoặc dùng đèn pha chiếu sáng qua lỗ gió hoặc đèn điện cầm tay điện áp 12 V, cáp cấp điện cho đèn là cáp 03 lõi, tay cầm của đèn làm bằng chất cách điện, bóng đèn có lưới bảo vệ.
p) Khi nổ mìn để phá các khối có nhiệt độ cao có nhiệt độ từ 80ºC đến 200ºC có mìn câm, chỉ cho phép người chỉ huy nổ mìn tới vị trí có phát mìn câm để kiểm tra sau không nhỏ hơn 01 giờ kể từ lúc đốt dây và với điều kiện là sau thời gian này khi quan sát qua lỗ gió không thấy hiện tượng nitrat amôn bị phân hủy mạnh.
Khi nổ mìn phá các khối có nhiệt độ cao có nhiệt độ thấp hơn 60ºC cho phép đi đến vị trí mìn câm sau 15 min.
Chỉ được thủ tiêu mìn câm bằng cách dùng nước phun rửa sạch vật liệu nút lỗ và thuốc nổ trong lỗ khoan nhưng chỉ thực hiện khi nhiệt độ khối có nhiệt độ cao nhỏ hơn 100 ºC.
q) Sau mỗi đợt nổ mìn:
- Chỉ tới chỗ nổ mìn sau khi lò đã được thông gió theo quy định (hoàn toàn hết khí độc);
- Chỉ được tới chỗ làm việc sau khi người lãnh đạo công tác xử lý "bướu" và người lãnh đạo công tác nổ mìn đã kiểm tra tình trạng của các phương tiện bảo vệ.
r) Không được nổ mìn ở trong lò trong thời gian các lò bên cạnh đang ra sản phẩm (thép, xỉ).
6. Nổ mìn để rèn dập kim loại
a) Việc gia công kim loại bằng cách nổ trong môi trường nước phải được tiến hành trong các thiết bị riêng hoặc trong các bể nước được bố trí trong phòng hoặc trên mặt bằng lộ thiên.
Khi bố trí bể nước trên mặt bằng lộ thiên thì khu vực làm việc phải có tường bao quanh cao hơn 2,0 m có trang bị hệ thống tín hiệu âm thanh, ánh sáng.
Việc rèn dập kim loại bằng cách nổ trong môi trường nước phải thực hiện theo thiết kế nổ mìn, có sự thỏa thuận với cơ quan đã thiết kế thiết bị, bể nước.
b) Chỉ sử dụng phương pháp nổ mìn bằng điện hoặc dây nổ để rèn dập kim loại. Trường hợp điều kiện làm việc phải nâng khuôn thiết bị lên chiều cao lớn hơn 02 m, phải nổ bằng dây nổ.
c) Nổ mìn trong môi trường nước, phải sử dụng kíp loại chịu nước có dây dẫn dài hơn 3,0 m để đảm bảo nối kíp với đường dây chính mà không phải nối dài thêm dây.
d) Mạng điện nổ mìn phải có 02 dây dẫn tới nguồn điện, dây dẫn không được để chạm vào các vật dụng bằng kim loại.
đ) Số lượng VLNCN dùng trong ca phải để trong lều hoặc trong phòng riêng bố trí trên mặt bằng công tác và theo quy định tại khoản 1 Điều 21 của Quy chuẩn này.
e) Trình tự nổ mìn để gia công kim loại như sau:
- Đặt phát mìn ở phía trên phôi;
- Cho đầy nước vào khuôn dập (khuôn dập đã có phôi và phát mìn);
- Đưa khuôn dập vào bể nước (đầy nước hoặc sau khi đưa khuôn dập xả đầy nước);
g) Đưa nước vào bể do người thợ mìn và người phục vụ thực hiện. Không cho phép những người khác có mặt cạnh bề nước.
h) Xử lý mìn câm thực hiện theo quy định tại Điều 31 của Quy chuẩn này.
k) Nổ mìn để rèn dập kim loại phải do thợ mìn thực hiện có sự chỉ đạo trực tiếp của người chỉ huy nổ mìn.
7. Nổ mìn để phá công trình
a) Không được nổ mìn bằng dây cháy chậm để phá dỡ các công trình.
b) Phương án nổ mìn để phá công trình ngoài các vấn đề chung theo quy định còn phải có các nội dung sau:
- Phải thể hiện trên bản đồ địa hình vị trí của công trình sẽ bị nổ mìn phá, giới hạn của khu vực mà gạch, đá có thể bay tới, hướng đổ của công trình;
- Sơ đồ các công trình ngầm và trên không gần công trình bị phá;
- Biện pháp xử lý trong trường hợp đã nổ mìn mà công trình không sập đổ hoàn toàn, hoặc mìn bị câm;
- Các biện pháp đảm bảo an toàn cho người và các công trình xung quanh.
c) Cho phép chuẩn bị mìn mồi, đóng bao thuốc nổ trong 01 phòng riêng được chiếu sáng tự nhiên hoặc sử dụng đèn điện chiếu hắt từ ngoài cửa sổ vào phòng của công trình định phá đổ.
d) Phải cắt điện trong công trình từ khi bắt đầu nạp mìn đến khi mìn nổ xong trong trường hợp nổ mìn điện. Mạng nổ mìn phải sử dụng mạng có 02 dây dẫn.
đ) Không được nạp và nổ đối với các lỗ mìn trong quá trình khoan phát hiện ống khói, khoảng rỗng.
e) Phải đặt các tấm chắc chắn che kín hoàn toàn chiều cao công trình sẽ bị phá hủy do nổ mìn.
Chân của tấm chắn đặt cách tường các công trình không nhỏ hơn 0,5 m, còn phía trên của tấm chắn thì dựa vào công trình.
g) Khi nổ mìn để phá dỡ công trình gần các đối tượng mà khi công trình đổ có thể gây chấn động nguy hiểm cho đối tượng đó thì phải tạo lớp đệm (có thể xếp gỗ) để hạn chế chấn động.
h) Khi thu dọn công trình đã bị phá đổ, phải có mặt người thợ mìn giám sát tại chỗ, trừ trường hợp sử dụng thuốc nổ nhóm 1.1D, 1.5D và không sử dụng kíp nổ.
k) Khi nổ mìn để phá vỡ nền móng, các khối đá xây chắc và ở gần các nồi hơi, ống dẫn đang có áp lực thì trước khi nổ mìn phải hạ áp suất trong các thiết bị này xuống dưới 1 bar. Trong trường hợp không thể giảm áp suất trong nồi hơi và ống dẫn thì các thiết bị này phải được che đậy bằng các tấm chắn chịu được sức phá hoại khi nổ mìn. Đối với các máy, thiết bị có độ phức tạp lớn, trong thời gian nổ mìn phải ngừng làm việc.
l) Phải đặt tấm chắn cách lỗ khoan không nhỏ hơn 0,5 m.
8. Nổ mìn để đào gốc cây và làm đổ cây
a) Trong khu rừng có nhiều vị trí nổ mìn để đào gốc cây, các người thợ mìn phải cách nhau không nhỏ hơn 500 m. Cho phép các thợ mìn cách nhau lớn hơn 300 m đối với trường hợp thống nhất hướng di chuyển và vị trí trú ẩn.
b) Khi bố trí công việc nổ mìn, chỉ huy nổ mìn phải giao nhiệm vụ cụ thể, chi tiết cho từng thợ mìn. Quy định vị trí phải tập kết khi thực hiện các công việc nạp mìn xong. Trường hợp sử dụng phương pháp nổ mìn đốt, phải chỉ rõ cho thợ mìn:
- Hướng đốt mìn và đường rút của một thợ mìn;
- Truyền đạt tín hiệu chung cho các thợ mìn;
- Đốt ngòi mìn kiểm tra;
- Kiểm tra sau khi nổ mìn.
c) Chỉ được nổ mìn đào gốc cây cách công trình, đối tượng cần bảo vệ không gần hơn 25 m.
d) Việc xử lý mìn câm tiến hành như sau:
- Khi phát mìn đặt trong đất dưới gốc cây thì thận trọng dùng tay lấy lớp đất nút lỗ mìn ra, đặt tiếp bao mìn mồi mới vào lỗ, lấp nút và nổ theo quy định;
- Trường hợp lỗ khoan được khoan vào gốc cây, phải khoan một lỗ khoan khác song song và cách lỗ cũ không nhỏ hơn 10 cm. Nạp thuốc, cho nổ theo quy định.
đ) Chỉ được nổ mìn để làm đổ cây cách công trình, đối tượng cần bảo vệ không gần hơn 30 m. Vị trí đặt phát mìn do người chỉ huy quyết định sao cho khi nổ mìn, cây không đổ về phía công trình, đối tượng cần bảo vệ.
MỤC 6. QUY ĐỊNH VỀ GIÁM SÁT CÁC ẢNH HƯỞNG NỔ MÌN