Điều 15. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh
1. Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định chương trình giám sát hàng năm theo quy định tại Điều 58 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
2. Chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh được thực hiện bằng một trong hai phương thức sau:
a) Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện;
b) Hội đồng nhân dân tỉnh thành lập đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh để giám sát chuyên đề.
3. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh nêu tại khoản 2 điều này báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát hằng năm của Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp giữa năm sau của Hội đồng nhân dân tỉnh.
4. Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát thông qua hoạt động xem xét báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cục Thi hành án dân sự tỉnh và các báo cáo khác theo quy định tại Điều 59 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
5. Giám sát thông qua hoạt động xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.
6. Giám sát thông qua hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân tỉnh bầu theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Nghị quyết số 85/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
7. Hoạt động chất vấn và xem xét trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh
a) Trước phiên họp chất vấn, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh ghi vấn đề chất vấn, người trả lời chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh;
b) Căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, quyết định vấn đề chất vấn và người trả lời chất vấn;
c) Nội dung chất vấn và trả lời chất vấn phải ngắn gọn, đúng trọng tâm; đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;
d) Người có trách nhiệm trả lời chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đã chất vấn; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có), không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại;
đ) Thủ trưởng các cơ quan khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình;
e) Thời gian nêu chất vấn của đại biểu không quá 02 phút cho mỗi câu hỏi; thời gian trả lời chất vấn cho mỗi câu hỏi của đại biểu không quá 05 phút;
g) Trường hợp được Hội đồng nhân dân cho trả lời chất vấn bằng văn bản, người trả lời chất vấn phải gửi văn bản trả lời đến Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đã chất vấn trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày chất vấn.
h) Chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày bế mạc kỳ họp, người đã trả lời chất vấn trực tiếp tại kỳ họp phải gửi văn bản trả lời chất vấn đến Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phục vụ tiếp xúc cử tri sau kỳ họp và theo dõi, giám sát việc thực hiện lời hứa sau chất vấn.
i) Chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân tỉnh, người đã trả lời chất vấn trực tiếp tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc đã gửi văn bản trả lời chất vấn cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả thực hiện lời hứa sau chất vấn hoặc kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn tại kỳ họp trước đến Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để chuyển đến đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh theo dõi và thực hiện quyền giám sát theo quy định.
8. Hội đồng nhân dân tỉnh có thể ra nghị quyết về chất vấn; trong trường hợp Hội đồng nhân dân tỉnh ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn thì Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh phân công Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh phối hợp với các cơ quan hữu quan chuẩn bị dự thảo nghị quyết để trình Hội đồng nhân dân tỉnh. Nội dung nghị quyết về chất vấn bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:
a) Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người trả lời chất vấn, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân liên quan đến vấn đề chất vấn;
b) Thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập;
c) Trách nhiệm thi hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
d) Trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn.
9. Phiên họp chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh được phát thanh, truyền hình trực tiếp, trừ trường hợp họp kín do Hội đồng nhân dân quyết định.
Chương IV
THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH