Điều 6. Định mức phân bổ dự toán chi sự nghiệp y tế, dân số, gia đình
1. Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên hệ điều trị cấp tỉnh, cấp huyện (các cơ sở khám chữa bệnh công lập):
Trên cơ sở định hướng phát triển ngành y tế, các khoản chi tiền lương, phụ cấp, các khoản đóng góp trích theo lương, chi công việc phục vụ khám chữa bệnh và hoạt động thường xuyên của các cơ sở khám chữa bệnh sẽ từng bước kết cấu đủ vào giá dịch vụ khám chữa bệnh theo lộ trình, tiến tới việc các cơ sở khám chữa bệnh công lập tự đảm bảo kinh phí hoạt động.
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh công lập, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các khoản chi chưa được kết cấu vào giá dịch vụ khám chữa bệnh hoặc đã kết cấu nhưng nguồn thu thực tế chưa đảm bảo hoạt động. Trên cơ sở đó, kinh phí hỗ trợ được phân bổ như sau:
a) Kinh phí hỗ trợ chi công việc:
Ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi công việc phục vụ khám chữa bệnh và hoạt động thường xuyên chưa được kết cấu vào giá dịch vụ khám chữa bệnh hoặc đã kết cấu nhưng nguồn thu thực tế chưa đảm bảo hoạt động. Kinh phí hỗ trợ phân bổ theo chỉ tiêu giường bệnh được cấp có thẩm quyền giao:
Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Phục hồi chức năng: 12,7 triệu đồng/giường bệnh/năm; Trung tâm Da liễu: 10,0 triệu đồng/giường bệnh/năm
Trung tâm Y tế thành phố Tuy Hòa: 15,0 triệu đồng/giường bệnh/năm; Trung tâm Y tế các huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh: 14,0 triệu đồng/giường bệnh/năm; Trung tâm Y tế thị xã Đông Hòa, Sông Cầu và các huyện còn lại: 12,0 triệu đồng/giường bệnh/năm.
b) Kinh phí hỗ trợ quỹ lương:
Ngân sách nhà nước hỗ trợ phần tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương chưa được kết cấu vào giá dịch vụ khám chữa bệnh hoặc đã kết cấu nhưng nguồn thu thực tế từ nguồn thu giá dịch vụ khám chữa bệnh chưa đảm bảo nhu cầu quỹ lương của số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao.
Ngân sách nhà nước sẽ phân bổ dự toán đầu năm tương ứng với 25% quỹ lương của số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt (không bao gồm người làm việc theo hợp đồng 68); số kinh phí còn thiếu sẽ được ngân sách nhà nước bổ sung trong điều hành ngân sách. Quá trình hoạt động, các cơ sở khám chữa bệnh (đơn vị sử dụng ngân sách) xác định phần kinh phí quỹ lương hình thành từ nguồn thu giá dịch vụ khám chữa bệnh để sử dụng chi trả tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương theo quy định; phần quỹ lương còn thiếu được sử dụng từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp để thực hiện. Đến cuối năm, nếu kinh phí ngân sách nhà nước cấp còn thừa sẽ thu hồi về ngân sách nhà nước.
Quỹ lương của số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt (không bao gồm người làm việc theo hợp đồng 68) theo mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng được xác định bao gồm:
Tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương của số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên có mặt trong chỉ tiêu được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt (không bao gồm người làm việc theo hợp đồng 68): tính theo hệ số thực tế tại thời điểm lập dự toán hàng năm;
Tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương của số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên trong chỉ tiêu được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt nhưng chưa tuyển: tiền lương tính theo hệ số lương khởi điểm ngạch chuyên viên 2,34 (viên chức loại A1) cộng các khoản phụ cấp (nếu có) và các khoản đóng góp theo tỷ lệ quy định.
c) Ngân sách nhà nước có thể điều chỉnh giảm mức hỗ trợ chi công việc phục vụ khám chữa bệnh và hoạt động thường xuyên của các cơ sở khám chữa bệnh công lập đối với các khoản chi đã được kết cấu vào giá dịch vụ theo lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh.
2. Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên hệ dự phòng, trung tâm, trạm chuyên khoa và dân số - kế hoạch hóa gia đình:
a) Kinh phí phục vụ hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp được phân bổ theo quy định tại Điều 29 Quy định này.
b) Kinh phí bổ sung bao gồm: Kinh phí hỗ trợ thực hiện bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động (nếu có) theo quy định; kinh phí bổ sung thực hiện nhiệm vụ y tế dự phòng; khám chữa bệnh cho các trung tâm, trạm chuyên khoa và các nhiệm vụ khác được phân bổ từ nguồn kinh phí bổ sung quy định tại khoản 5 Điều này.
3. Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên tuyến trạm y tế cấp xã:
a) Kinh phí hỗ trợ chi công việc phục vụ khám chữa bệnh và hoạt động thường xuyên của đơn vị:
Ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi công việc phục vụ khám chữa bệnh và hoạt động thường xuyên chưa được kết cấu vào giá dịch vụ khám chữa bệnh hoặc đã kết cấu nhưng nguồn thu thực tế chưa đảm bảo hoạt động. Kinh phí hỗ trợ phân bổ theo chỉ tiêu số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao:
Đối với xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng khó khăn: 19,5 triệu đồng/người/năm
Đối với phường, thị trấn: 19,0 triệu đồng/người/năm
Đối với xã còn lại: 18,5 triệu đồng/người/năm
b) Kinh phí hỗ trợ quỹ lương:
Ngân sách nhà nước hỗ trợ phần tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương chưa được kết cấu vào giá dịch vụ khám chữa bệnh hoặc đã kết cấu nhưng phần kinh phí quỹ lương hình thành từ nguồn thu giá dịch vụ khám chữa bệnh chưa đảm bảo nhu cầu quỹ lương của số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao.
Trước mắt, ngân sách nhà nước bố trí dự toán đủ quỹ lương của số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên trong chỉ tiêu được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt. Trong quá trình hoạt động, các đơn vị xác định phần kinh phí quỹ lương hình thành từ nguồn thu giá dịch vụ khám, chữa bệnh cùng với nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp để thực hiện chi trả tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương theo quy định. Đến cuối năm, phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ quỹ lương còn thừa sẽ thu hồi về ngân sách nhà nước.
c) Kinh phí bổ sung:
Hỗ trợ kinh phí hoạt động của trạm y tế cấp xã với mức 20 triệu đồng/trạm/năm. Kinh phí hỗ trợ thực hiện bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động (nếu có) theo quy định. Kinh phí thực hiện chế độ phụ cấp thường trực ngành y tế chưa được kết cấu vào giá dịch vụ khám chữa bệnh.
4. Phụ cấp nhân viên y tế thôn, buôn, khu phố theo Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg ngày 11/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 162/2010/QĐ-UBND ngày 01/02/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định số lượng và mức phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, buôn, khu phố trên địa bàn tỉnh, với mức lương cơ sở 1.490.000 đồng/tháng được phân bổ và thực hiện chi trả theo mức như sau:
Đối với nhân viên y tế thôn, buôn thuộc các xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng khó khăn (mức 0,5): 8,940 triệu đồng/người/năm
Đối với nhân viên y tế thôn, khu phố thuộc các phường, thị trấn (mức 0,2): 3,576 triệu đồng/người/năm
Đối với nhân viên y tế thôn, buôn thuộc các xã còn lại (mức 0,3): 5,364 triệu đồng/người/năm
5. Kinh phí bổ sung thực hiện một số nhiệm vụ của ngành y tế:
a) Chi y tế dự phòng thực hiện được phân bổ với mức 6.000 đồng/người dân/năm để thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh xuyên suốt toàn tỉnh.
b) Kinh phí thực hiện khám chữa bệnh của các trung tâm, trạm chuyên khoa và kinh phí hỗ trợ chung để điều hòa thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh giữa các đơn vị ngành Y tế được phân bổ với mức 4.000 đồng/người dân/năm.
c) Căn cứ nhiệm vụ và điều kiện thực tế của từng đơn vị, Giám đốc Sở Y tế (đơn vị dự toán cấp I) quyết định phân bổ và giao dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ tại điểm a và điểm b Khoản này cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo đúng trình tự, thủ tục quy định.
6. Kinh phí bảo hiểm y tế các chính sách do ngân sách tỉnh trực tiếp thanh toán chuyển vào Quỹ bảo hiểm y tế gồm:
a) Kinh phí bảo hiểm y tế được ngân sách nhà nước đóng, hỗ trợ mức đóng theo chính sách của trung ương quy định đối với trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, người dân tộc thiểu số vùng khó khăn, người dân sinh sống vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, học sinh sinh viên, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình, người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật được phân bổ theo mức kinh phí đã được Bộ Tài chính bố trí trong dự toán cho ngân sách địa phương.
b) Kinh phí bảo hiểm y tế được ngân sách địa phương hỗ trợ thêm mức đóng theo chính sách của địa phương quy định (ngoài mức trung ương quy định) thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh đảm bảo được phân bổ theo số lượng đối tượng thực tế và mức hỗ trợ theo quy định.
c) Kinh phí nêu tại điểm a và điểm b Khoản này được bố trí và giao dự toán cho cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, chi tiết theo từng chính sách. Hàng quý, căn cứ số liệu cấp phát thẻ bảo hiểm y tế, cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh tổng hợp lập hồ sơ đề nghị thanh toán gửi Sở Tài chính. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, Sở Tài chính thẩm định và lập thủ tục chuyển kinh phí ngân sách nhà nước thanh toán vào Quỹ bảo hiểm y tế theo quy định tại Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ hướng dẫn Luật Bảo hiểm y tế, đồng thời thông báo cho cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh biết. Kết thúc năm ngân sách, cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh tổng hợp quyết toán kinh phí thanh toán thẻ bảo hiểm y tế thực hiện trong năm gửi Sở Tài chính để thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
7. Kinh phí bảo hiểm y tế đối với cựu chiến binh, thanh niên xung phong, người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Campuchia được phân bổ theo mức kinh phí đã được Bộ Tài chính bố trí trong dự toán cho ngân sách địa phương và phần kinh phí ngân sách địa phương đảm bảo, giao dự toán cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý thực hiện thanh toán khoản kinh phí này theo đúng quy định.
8. Kinh phí bổ sung thực hiện các nhiệm vụ đặc thù khác được phân bổ theo quy định tại Điều 30 Quy định này.