Điều 6. Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật
1. Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật được thực hiện theo kế hoạch của Bộ Công an, đơn vị, địa phương hoặc khi có những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành hoặc theo quyết định thành lập đoàn kiểm tra liên ngành.
2. Công an các đơn vị, địa phương kiểm tra tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi trách nhiệm được giao nhằm kịp thời phát hiện khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật và hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật. Đối tượng được kiểm tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của đoàn kiểm tra theo quy định của pháp luật.
3. Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật trong Công an nhân dân thực hiện theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và quy định của pháp luật về công tác kiểm tra trong Công an nhân dân.
Trong một năm không tổ chức kiểm tra quá một lần tại một Công an đơn vị, địa phương, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất thì cơ quan tham mưu phải báo cáo rõ lý do kiểm tra, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
4. Nội dung kiểm tra việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong Công an nhân dân thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số59/2012/NĐ-CP.
5. Tổ chức thực hiện kiểm tra
a) Hằng năm, căn cứ Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong Công an nhân dân, Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập các đoàn kiểm tra tình hình thi hành pháp luật tại Công an các đơn vị, địa phương. Các đơn vị thuộc cơ quan Bộ tiến hành kiểm tra tình hình thi hành pháp luật trong phạm vilĩnh vực quản lý và theo hệ lực lượng. Phòng Tham mưu thuộc Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan tham mưu, giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh kiểm tra tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi lĩnh vực, địa bàn quản lý.
b) Quyết định thành lập đoàn kiểm tra bao gồm các nội dung cơ bản: ngày, tháng, năm ban hành quyết định; căn cứ ban hành quyết định; đối tượng kiểm tra; thời gian dự kiến kiểm tra; nội dung kiểm tra; họ, tên, chức vụ của Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn và các thành viên, quyền hạn và trách nhiệm của đoàn kiểm tra; quyềnvà trách nhiệm của đối tượng được kiểm tra.
c) Quyết định thành lập đoàn kiểm tra phải được thông báo cho đối tượng được kiểm tra chậm nhất 07 ngày làm việc trước ngày bắt đầu tiến hành kiểm tra. Trường hợp kiểm tra đột xuất, quyết định thành lập đoàn kiểm tra phải được gửi cho đối tượng được kiểm tra ngay sau khi quyết định được ban hành hoặc phải giao trực tiếp cho đối tượng được kiểm tra ngay khi tiến hành hoạt động kiểm tra.
d) Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra các nội dung theo quy định tại quyết định thành lập đoàn kiểm tra, trường hợp cần thiết có thể kiểm tra thực tế, xác minh các thông tin, tài liệu, kết quả tình hình thi hành pháp luật để làm cơ sở kết luận các nội dung kiểm tra.
đ) Đối tượng được kiểm tra báo cáo bằng văn bản; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung kiểm tra; giải trình những vấn đề thuộc nội dung kiểm tra theo yêu cầu của đoàn kiểm tra.
e) Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra gửi kết luận kiểm tra đến đối tượng được kiểm tra, đồng thời gửi cho người có thẩm quyền ra quyết định kiểm tra để báo cáo về kết quả kiểm tra.
g) Kết luận kiểm tra phải có các nội dung cơ bản: nhận xét, đánh giá về những kết quả đạt được; hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong thi hành pháp luật; kiến nghị thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật; kiến nghị việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với sai phạm (nếu có) của đối tượng được kiểm tra.
6. Việc thực hiện kết luận kiểm tra
a) Đối tượng kiểm tra và Công an các đơn vị, địa phương liên quan phải tổ chức thực hiện nghiêm túc thông báo kết luận kiểm tra và báo cáo kết quả với cơ quan tham mưu cho người có thẩm quyền kiểm tra;
b) Cơ quan tham mưu cho người có thẩm quyền kiểm tra là đơn vị chủ trì theo dõi, đôn đốc, giám sát đối tượng kiểm tra và Công an các đơn vị, địa phương liên quan thực hiện thông báo kết luận kiểm tra.
7. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao và sự phân công của lãnh đạo Bộ, các đơn vị thuộc cơ quan Bộ có trách nhiệm tham mưu, báo cáo và trực tiếp tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành về tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành theo quy định của pháp luật.