Điều 3. Tiêu chuẩn xét tặng Kỷ niệm chương
1. Cá nhân là lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và lãnh đạo các cơ quan tương đương cấp bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương có nhiều đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Cao Bằng.
2. Cá nhân đã và đang đảm nhiệm một trong các chức vụ sau: Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh; Tỉnh ủy viên các khóa; đại biểu Quốc hội các khóa thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cao Bằng.
3. Cá nhân là người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945, cán bộ tiền khởi nghĩa trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
4. Cá nhân là Bí thư, Phó Bí thư cấp huyện, cấp xã, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính cấp huyện, cấp xã, chỉ huy các khu, đội du kích trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
5. Cá nhân đã được tặng thưởng một trong các hình thức, danh hiệu thi đua cấp Nhà nước theo Luật Thi đua, khen thưởng gồm: Huân chương; Danh hiệu vinh dự Nhà nước; Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước; Chiến sĩ thi đua toàn quốc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
6. Cá nhân làm việc tại các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, lực lượng vũ trang có thời gian công tác, làm việc tại tỉnh Cao Bằng từ đủ 25 năm trở lên đối với nữ, từ đủ 30 năm đối với nam (tính theo thời gian đóng bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Cao Bằng), hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên và đã được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ trở lên hoặc danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương trở lên hoặc được tặng Bằng Lao động sáng tạo, Giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh, Giải thưởng Nguyễn Văn Linh của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
7. Cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) của doanh nghiệp, hợp tác xã có đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của tỉnh có thời gian công tác tại tỉnh Cao Bằng từ đủ 05 năm trở lên, trọng thời gian đó cá nhân (hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã) đã được tặng Bằng khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trở lên (khen thưởng công trạng) hoặc danh hiệu, giải thưởng cấp tỉnh trở lên (được quy định tại Nghị định số 98/2023/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2023 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng), doanh nghiệp, hợp tác xã do cá nhân quản lý hoạt động ổn định và phát triển liên tục từ 10 năm trở lên.
8. Cá nhân là người hoạt động không chuyên trách tại xã, phường, thị trấn; xóm, tổ dân phố đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
a) Có thời gian giữ chức danh (được công dồn) từ đủ 10 năm trở lên và đã được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ trở lên.
b) Có thời gian giữ chức danh (được cộng dồn) từ đủ 25 năm trở lên; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đã được tặng ít nhất 02 Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về khen thưởng công trạng.
9. Cá nhân là nông dân có mô hình sản xuất hiệu quả, có phạm vi ảnh hưởng trong địa bàn huyện, thành phố và giúp đỡ hộ nông dân khác phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, cá nhân (hoặc hộ gia đình) đã được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp Trung ương.
10. Cá nhân là vận động viên, học sinh, sinh viên của tỉnh đạt giải Nhất, Nhì, Ba (hoặc tương đương) trong các cuộc thi, giải đấu quốc tế do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định (sau khi xin kiến của Thường trực Tỉnh ủy).
11. Cá nhân là chủ hộ gia đình, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài và các trường hợp khác có thành tích đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, tăng cường mối quan hệ hợp tác, hữu nghị của tỉnh Cao Bằng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định (sau khi xin ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy).