Điều 15. Một số hoạt động thu thập tài liệu khác liên quan đến vụ tai nạn
1. Tạm giữ tài liệu, đồ vật, phương tiện giao thông đường bộ hoặc người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt (nếu có). Việc tạm giữ thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
2. Khám nghiệm phương tiện giao thông đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt: việc khám nghiệm phương tiện giao thông đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt được thực hiện theo quy định tại Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông.
3. Xem xét dấu vết trên thân thể người bị nạn:
a) Xem xét dấu vết trên thân thể người bị nạn phải được ghi nhận tỉ mỉ (mô tả chi tiết trong biên bản, chụp ảnh). Nếu là nạn nhân nữ thì phải cử cán bộ nữ tham gia khám dấu vết thương tích và có người cùng giới chứng kiến;
b) Nếu nạn nhân đi cấp cứu phải thu thập giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án điều trị chấn thương do vụ tai nạn gây ra hoặc kết quả trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể;
c) Nếu nạn nhân không đi cấp cứu nhưng có đề nghị giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể thì phải thực hiện quy định tại điểm a Khoản này và báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền để yêu cầu cơ quan giám định tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.
4. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của đường sắt liên quan đến vụ tai nạn:
a) Điểm trật bánh đầu tiên hoặc xảy ra tai nạn đầu tiên;
b) Kiểm tra kỹ thuật đường sắt trong phạm vi 100m đến 300m, bắt đầu từ điểm trật bánh đầu tiên hoặc điểm xảy ra tai nạn ngược với hướng tàu chạy, cứ 3 m đo một điểm ghi số liệu về cự ly, thuỷ bình; trường hợp điểm xảy ra tai nạn ở đường cong phải kiểm tra đường tên để xác định độ cong tròn của đường cong;
c) Kiểm tra các thiết bị, phụ kiện của đường về số lượng, chất lượng: Ray, khe hở mối nối ray, tà vẹt, lập lách, các phụ kiện nối giữ, đá, nền đường và xác định độ liên kết giữa chúng. Nếu giữa các liên kết có khe hở thì phải đo cụ thể khe hở đó, nhất là khe hở giữa ray và tà vẹt, giữa mặt dưới tà vẹt với mặt trên lớp đá ba lát, khe hở giữa đinh crămpông, bu-lông cóc với đế ray; chú ý các dấu vết trên ray, tà vẹt và các phụ kiện;
d) Thu lượm dấu vết: Trường hợp trật bánh đầu máy hoặc toa xe do cán phải chướng ngại vật trên đường sắt (đinh crămpông, đá) hoặc thiết bị của đầu máy, toa xe rơi xuống đường phải khám nghiệm dấu vết trên vật chướng ngại và lập biên bản thu giữ, bảo quản theo quy định; trường hợp tai nạn do trang thiết bị của đầu máy, toa xe rơi trên đường phải xác định vị trí, trạng thái của chúng trước khi xảy ra tai nạn; xác định trạng thái liên kết khi bị rời ra khỏi đầu máy, toa xe (góc, tuột bu - lông; bị biến dạng);
đ) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường sắt liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
5. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của đường ngang liên quan đến vụ tai nạn:
a) Điểm xảy ra tai nạn trên đường ngang;
b) Tầm nhìn, tình trạng đường ngang (mặt lát đường ngang, độ dốc, góc giao cắt, ray hộ bánh), cấp đường ngang, báo hiệu khu vực đường ngang, tổ chức giao thông trên đường ngang (có phòng vệ hay không có phòng vệ, đường ngang hợp pháp hay không hợp pháp);
c) Kiểm tra các dấu vết trên đường sắt: Vết phanh, lết của bánh xe trên mặt ray, vết dầu mỡ, máu (nếu có);
d) Kiểm tra các dấu vết trên đoạn đường bộ giao cắt với đường sắt;
đ) Trường hợp tai nạn xảy ra tại nơi đường ngang có người và hệ thống điều khiển giao thông: Xác định trạng thái của chắn và tín hiệu trên đường bộ lúc xảy ra tai nạn; dấu vết để lại trên cần chắn; ghi nhận vị trí của biển dừng di động màu đỏ, tín hiệu trên đường sắt; ghi nhận sự hoạt động của thiết bị thông tin tín hiệu; xác định vị trí của nhân viên gác chắn trong thời điểm xảy ra tai nạn, các chứng chỉ đào tạo, nhật ký đường ngang;
e) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường ngang liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
6. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cầu đường sắt, cầu chung liên quan đến vụ tai nạn:
a) Trường hợp tai nạn xảy ra trên cầu do kiến trúc tầng trên của đường sắt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Xác định trạng thái tín hiệu ở hai đầu cầu (nếu có). Đối với cầu chung giữa đường bộ và đường sắt, xác định việc tổ chức giao thông ở hai đầu cầu;
c) Trường hợp tai nạn xảy ra do kết cấu của cầu, cần xác định vị trí xảy ra tai nạn trên cầu: Xác định loại cầu (bê tông, thép), tính chất và các đặc điểm của cầu; đo chiều cao toàn cầu, chiều dài một nhịp, số trụ; ghi nhận các khuyết tật có thể nhận thấy bằng mắt thường;
d) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật cầu đường sắt, cầu chung liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
7. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của hầm liên quan đến vụ tai nạn:
a) Chỉ tiêu kỹ thuật đường trong hầm thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Trường hợp hầm bị rò, rỉ nước gây tai nạn thì xác định các hư hỏng của vỏ hầm dẫn đến tai nạn;
c) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật hầm liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
8. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của ghi liên quan đến vụ tai nạn:
a) Chiều hướng, biểu chỉ ghi, độ áp sát của lưỡi ghi vào ray cơ bản, trạng thái hoạt động của các thiết bị, phụ kiện ghi;
b) Kiểm tra chất lượng kỹ thuật của lưỡi ghi, chế độ bảo quản, ray hộ bánh, tâm ghi và ray cơ bản; kiểm tra chất lượng vị trí của chốt an toàn, khoá điện khống chế ghi;
c) Xem xét các vật lạ có trong phạm vi hoạt động của ghi, nếu có phải mô tả vị trí, kích thước các dấu vết và thu giữ bảo quản;
d) Kế hoạch đón tiễn, dồn tàu của ga, hoạt động của trực ban và gác ghi: Thu giữ phiếu dồn, thẻ đường, nhật ký chạy tàu ga;
đ) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật của ghi liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
9. Xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cột hiệu, đèn tín hiệu liên quan đến vụ tai nạn:
a) Chiều cao cột tín hiệu, các phụ kiện kèm theo (cánh tín hiệu, màu sơn của cánh tín hiệu, kính màu, cần quả tạ, cánh khuỷu điều khiển biển hiệu), hệ thống tay kéo tín hiệu, bánh xe chuyển hướng;
b) Chiều cao cột đèn tín hiệu, cơ cấu tín hiệu, nguồn sáng;
c) Việc xác định chỉ tiêu kỹ thuật của cột hiệu, đèn tín hiệu liên quan đến vụ tai nạn phải được lập biên bản theo quy định của pháp luật.
10. Dựng lại hiện trường:
a) Trong quá trình điều tra vụ tai nạn, nếu có căn cứ xác định hiện trường bị xáo trộn, hiện trường giả hoặc xét thấy cần thiết cho việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn thì tổ chức dựng lại hiện trường. Việc dựng lại hiện trường phải có kế hoạch, quyết định của người có thẩm quyền;
b) Nội dung dựng lại hiện trường cần xác định lại vị trí người bị nạn, đồ vật, phương tiện, dấu vết để lại ở hiện trường, xem xét lại những tình huống, hành vi và những tình tiết khi xảy ra vụ tai nạn; đo đạc và vẽ lại sơ đồ hiện trường; chụp ảnh để làm cơ sở so sánh đối chiếu;
c) Kết thúc dựng lại hiện trường vụ tai nạn phải lập biên bản theo quy định, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản.
11. Giám định chuyên môn:
Trường hợp cần giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể người bị nạn hoặc giám định dấu vết, giám định chuyên môn kỹ thuật phương tiện, cầu, đường, phà thì phải yêu cầu cơ quan giám định tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người bị nạn từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể thì phải lập biên bản, ghi rõ lý do từ chối, có xác nhận của họ hoặc người chứng kiến và thực hiện dẫn giải hoặc thực hiện việc giám định nếu thuộc trường hợp quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trường hợp phải giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể nhưng người bị nạn bị chết hoặc bị mất tích hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan thì thu thập tài liệu, đồ vật cần thiết và đề nghị cơ quan chức năng thực hiện giám định qua hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Mục 2
GIẢI QUYẾT VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT