Điều 21. Cơ chế chỉ đạo, chỉ huy khu vực phòng thủ
1. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo
a) Bộ Quốc phòng lập quy hoạch sử dụng đất quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cả nước, làm căn cứ để các bộ, ngành trung ương, địa phương lập thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ; giao chỉ tiêu kế hoạch cho các bộ, ngành trung ương, địa phương bảo đảm nhu cầu quốc phòng năm đầu chiến tranh;
b) Chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương, địa phương thực hiện nhiệm vụ xây dựng và hoạt động khu vực phòng thủ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Quốc phòng;
c) Ban hành Quy chế hoạt động của các lực lượng trong khu vực phòng thủ.
2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo, chỉ huy
a) Xây dựng kế hoạch khu vực phòng thủ ở các địa phương phù hợp với kế hoạch phòng thủ quân khu;
b) Các cơ quan, đơn vị quân đội chủ trì thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm a, c, đ, e khoản 2 Điều 9 Luật Quốc phòng; phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Công an và các bộ, ngành trung ương, địa phương thực hiện nhiệm vụ theo quy định, tại điểm b, c, d, g, h khoản 2 Điều 9 Luật Quốc phòng;
c) Diễn tập, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện xây dựng và hoạt động khu vực phòng thủ.
3. Bộ trưởng Bộ Công an chỉ đạo cơ quan, đơn vị thuộc quyền theo chức năng, nhiệm vụ, chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị quân đội và của các bộ, ngành trung ương, địa phương thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm b, c, d, đ, h khoản 2 Điều 9 Luật Quốc phòng.
4. Các bộ, ngành Trung ương chỉ đạo cơ quan, đơn vị thuộc quyền theo chức năng, nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị quân đội, công an và địa phương trong khu vực phòng thủ thực hiện nhiệm vụ có liên quan quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Quốc phòng.
5.[9] Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết nghị, giám sát nhiệm vụ xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ; quyết nghị chủ trương, biện pháp chuyển hoạt động kinh tế - xã hội ở địa phương trong khu vực phòng thủ sang thời chiến theo quy định của Luật Quốc phòng.
6. Cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ tập trung, thống nhất; cơ quan quân sự chủ trì, phối hợp với cơ quan công an và các ban ngành, đoàn thể ở địa phương làm tham mưu và tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng và chiến tranh đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của cấp ủy đảng; sự chỉ đạo điều hành thống nhất của Ủy ban nhân dân, do Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương chủ trì tham mưu và chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang của khu vực phòng thủ, phối hợp với các lực lượng khác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.
Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, biểu tình, gây rối; phòng, chống khủng bố, bắt cóc con tin, bạo loạn, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội do người đứng đầu cơ quan công an ở địa phương chủ trì tham mưu và chỉ huy lực lượng công an phối hợp với lực lượng quân đội và các lực lượng khác xử lý theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Hoạt động sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu của lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an.
7.[10] Bộ Tư lệnh quân khu chủ trì, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương cấp tỉnh; Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tham mưu cho Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ; trong trạng thái khẩn cấp về quốc phòng và trạng thái chiến tranh lãnh đạo và chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ chiến đấu.
8. Cơ quan quân sự địa phương phối hợp với các sở, ban, ngành và đoàn thể tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và các nhiệm vụ khác quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Quốc phòng.