Điều 9. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
1. Tuỳ theo tính chất, quy mô và mức độ mật của dự án, người được giao quản lý, thực hiện xây dựng công trình thành lập Ban quản lý dự án đáp ứng điều kiện năng lực theo quy định để quản lý thực hiện dự án.
2. Người được giao quản lý, thực hiện dự án được chỉ định các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực và tín nhiệm để thực hiện các công việc liên quan đến dự án đầu tư xây dựng công trình bí mật và phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.
3. Những nội dung về quản lý chất lượng xây dựng công trình được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Việc giám sát, nghiệm thu chất lượng xây dựng do người được giao quản lý tổ chức thực hiện, không tổ chức hội đồng nghiệm thu nhà nước.
Trường hợp xảy ra sự cố trong quá trình thực hiện dự án thì người được giao quản lý phải trực tiếp giải quyết, xử lý hoặc báo cáo người có thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này để xử lý. Trình tự giải quyết và hình thức xử lý sự cố công trình thực hiện theo quy định tại Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng.
4. Sau khi nghiệm thu công trình hoàn thành để đưa vào sử dụng, người được giao quản lý, thực hiện xây dựng công trình bí mật nhà nước có trách nhiệm:
a) Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc hoàn thành công trình.
b) Lưu trữ, quản lý, khai thác hồ sơ tài liệu dự án, công trình theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
c) Thực hiện vận hành, bảo hành, bảo trì theo quy định hiện hành và theo những nguyên tắc về bảo vệ công trình bí mật.
5. Người được giao quản lý thực hiện xây dựng công trình bí mật nhà nước chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, người có thẩm quyền được quy định tại Nghị định này.
6. Việc kiểm tra, thanh tra đối với công trình bí mật nhà nước được thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.