Điều 4. Chuyển đổi số và hợp tác quốc tế
1. Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, hạ tầng số và nền tảng dùng chung. Đến năm 2030, các cơ sở giáo dục đại học hoàn thành hạ tầng số, nền tảng số đồng bộ, kết nối liên thông. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển các sản phẩm, dịch vụ giáo dục số theo phương thức đối tác công tư.
2. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, tổ chức khoa học và công nghệ được chủ động tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế và thông báo cho cơ quan quản lý trực tiếp trước khi tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế đối với các lĩnh vực toán và thống kê, máy tính và công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật, khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, khoa học môi trường, môi trường và bảo vệ môi trường, kinh tế học, kinh doanh và quản lý, sản xuất và chế biến, kiến trúc và xây dựng, nông lâm nghiệp và thủy sản, thú y, sức khỏe, khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên, dịch vụ vận tải và các hội nghị, hội thảo quốc tế thuộc chủ đề phục vụ giải quyết các nhiệm vụ cấp bách theo yêu cầu, chỉ đạo, đặt hàng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành.
Trường hợp hội nghị, hội thảo quốc tế có thành viên tham dự là Bộ trưởng hoặc tương đương trở lên của các nước, các vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế; hội nghị, hội thảo quốc tế có chủ đề, nội dung liên quan đến các vấn đề về biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo, quyền con người hoặc thuộc phạm vi bí mật nhà nước thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập phân hiệu hoặc cơ sở giáo dục đại học công lập của Việt Nam tại nước ngoài theo Đề án được cơ quan quản lý trực tiếp đồng ý, phù hợp với pháp luật của nước sở tại. Việc tổ chức đào tạo, cấp văn bằng hoặc đồng cấp văn bằng thực hiện theo nội dung Đề án và quy định của nước sở tại.