Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 6 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm c và điểm d khoản 2 như sau:
“c) Giáo dục nghề nghiệp gồm sơ cấp, trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề khác;
d) Giáo dục đại học gồm đại học và sau đại học.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam; quy định về thời gian, tiêu chuẩn cho từng trình độ đào tạo, khối lượng học tập tối thiểu các cấp học, trình độ của giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; quy định về thời gian, tiêu chuẩn, đối tượng, khối lượng học tập tối thiểu đối với chương trình giáo dục, đào tạo các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 9 như sau:
“2. Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học nghề và tương đương tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc tham gia lao động phù hợp với năng lực, sở trường, năng khiếu, điều kiện của cá nhân và nhu cầu của xã hội.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục.”.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:
“Điều 12. Văn bằng, chứng chỉ
1. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông; người học hoàn thành chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy định của Luật này.
2. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
3. Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp hoặc cấp cho người học dự thi lấy chứng chỉ theo quy định.
4. Văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau.
5. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể về quản lý văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và công nhận chứng chỉ khác để sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân.”.
4. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc.
Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi.”;
b) Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:
“5. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:
“Điều 19. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ của cơ sở giáo dục; được tổ chức thực hiện phù hợp với mục tiêu, chương trình, nhiệm vụ của từng cấp học, trình độ đào tạo.
2. Cơ sở giáo dục tự triển khai hoặc phối hợp với tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật.
3. Nhà nước có chính sách khuyến khích, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo có kiểm soát trong cơ sở giáo dục, bảo đảm gắn với yêu cầu thực tiễn, tiếp cận xu hướng quốc tế nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
4. Nhà nước đầu tư chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục và đào tạo thông qua phát triển hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, quản lý nhà nước, hoạt động dạy và học, nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
5. Nhà nước có chính sách ưu tiên, tạo điều kiện đầu tư cơ sở hạ tầng, công nghệ, hỗ trợ đào tạo để thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
6. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 25 như sau:
“b) Quy định yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực sau khi hoàn thành giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; quy định nội dung, hoạt động, phương pháp, hình thức, môi trường giáo dục, đánh giá sự phát triển của trẻ em;”.
7. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 28 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 như sau:
“c) Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc dạy và học tiếng Việt cho trẻ em là người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một; việc giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp; việc giảng dạy khối lượng kiến thức văn hóa giáo dục phổ thông trong chương trình đào tạo các ngành, nghề đặc thù; các trường hợp học sinh được học vượt lớp, học ở độ tuổi cao hơn hoặc thấp hơn tuổi quy định tại khoản 1 Điều này.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 32 như sau:
“Điều 32. Sách giáo khoa giáo dục phổ thông và tài liệu giáo dục địa phương
1. Sách giáo khoa giáo dục phổ thông được quy định như sau:
a) Sách giáo khoa triển khai chương trình giáo dục phổ thông, cụ thể hóa yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông về mục tiêu, nội dung giáo dục, yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh; định hướng về phương pháp giảng dạy và cách thức kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; nội dung và hình thức sách giáo khoa không mang định kiến dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, lứa tuổi và địa vị xã hội; sách giáo khoa thể hiện dưới dạng sách in, sách chữ nổi Braille, sách điện tử;
b) Chính phủ quy định việc miễn phí sách giáo khoa cho học sinh; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông sử dụng thống nhất toàn quốc;
c) Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và thành lập theo từng môn học, hoạt động giáo dục để thẩm định sách giáo khoa. Hội đồng và thành viên Hội đồng chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định;
d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt sách giáo khoa để sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông sau khi được Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa thẩm định và đánh giá xếp loại đạt; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
2. Tài liệu giáo dục địa phương được quy định như sau:
a) Tài liệu giáo dục địa phương do cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức biên soạn đáp ứng nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của địa phương;
b) Hội đồng thẩm định tài liệu giáo dục địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập. Hội đồng và thành viên Hội đồng chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng thẩm định;
c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt tài liệu giáo dục địa phương để sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông sau khi được Hội đồng cấp tỉnh thẩm định và đánh giá xếp loại đạt;
d) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa và thẩm định tài liệu giáo dục địa phương.”.
9. Sửa đổi, bổ sung Điều 34 như sau:
“Điều 34. Xác nhận hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và cấp văn bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
1. Học sinh học hết chương trình giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục trung học cơ sở đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được hiệu trưởng nhà trường xác nhận học bạ việc hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục trung học cơ sở.
2. Học sinh học hết chương trình giáo dục trung học phổ thông đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được dự thi, đạt yêu cầu được hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Trường hợp học sinh không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được hiệu trưởng nhà trường cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông. Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông được sử dụng để đăng ký dự thi lấy bằng tốt nghiệp trung học phổ thông khi người học có nhu cầu hoặc để theo học giáo dục nghề nghiệp và sử dụng trong trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 35 như sau:
“Điều 35. Các cấp học, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp
1. Đào tạo trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo nghề khác dành cho người có trình độ học vấn phù hợp.
2. Giáo dục trung học nghề dành cho người đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương; giáo dục trung học nghề cùng cấp học với giáo dục trung học phổ thông.
3. Đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng dành cho người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc tương đương trở lên. Đối với trình độ trung cấp các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.”.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:
“Điều 38. Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học
1. Đào tạo trình độ đại học dành cho người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc tương đương trở lên.
2. Đào tạo sau đại học gồm:
a) Đào tạo trình độ thạc sĩ dành cho người học có trình độ từ đại học trở lên;
b) Đào tạo trình độ tiến sĩ dành cho người học có trình độ thạc sĩ hoặc người học có trình độ từ đại học trở lên.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định học liên thông giữa trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học.”.
12. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 43 như sau:
“d) Chương trình giáo dục trung học cơ sở và chương trình giáo dục thuộc chương trình để cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.”.
13. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 44 như sau:
“4. Cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học khi thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên phải bảo đảm nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của mình; thực hiện chương trình quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43 của Luật này theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.”.
14. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 45 như sau:
“2. Học viên học hết chương trình giáo dục trung học cơ sở quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43 của Luật này đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục trung học cơ sở xác nhận học bạ việc hoàn thành chương trình trung học cơ sở.
3. Học viên học hết chương trình giáo dục trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 Điều 43 của Luật này đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục trung học phổ thông cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Trường hợp học viên không dự thi hoặc thi không đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên quy định tại khoản 4 Điều 44 của Luật này cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều 52 như sau:
“Điều 52. Thẩm quyền, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên nhà trường
1. Việc thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu của từng cấp học, trình độ đào tạo và năng lực tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ, các điều kiện bảo đảm chất lượng khác của nhà trường.
2. Thẩm quyền thành lập trường công lập và cho phép thành lập trường dân lập, trường tư thục được quy định như sau:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định đối với trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở; trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông nội trú, trong đó có cấp học cao nhất là trung học cơ sở;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với trường trung học phổ thông; trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông nội trú, trong đó có cấp học cao nhất là trung học phổ thông; trường trung cấp, trường trung học nghề trên địa bàn tỉnh; trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông do cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế liên Chính phủ đề nghị;
c) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đối với trường dự bị đại học, trường cao đẳng, trường đại học, đại học;
d) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với trường mầm non, trường trung học phổ thông, trường trung cấp, trường cao đẳng thuộc Bộ Quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Công an quyết định đối với các trường trung học phổ thông, trường trung cấp, trường cao đẳng thuộc Bộ Công an.
3. Thẩm quyền cấp phép hoạt động giáo dục đối với nhà trường ở các cấp học, trình độ đào tạo thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Người có thẩm quyền cấp phép hoạt động giáo dục có thẩm quyền quyết định đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục.
4. Người có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập nhà trường có thẩm quyền thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, quyết định thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, quyết định sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên nhà trường.
Trường hợp sáp nhập giữa các nhà trường không do cùng một cấp có thẩm quyền thành lập thì cấp có thẩm quyền cao hơn quyết định; trường hợp cấp có thẩm quyền thành lập ngang nhau thì cấp có thẩm quyền ngang nhau đó thỏa thuận quyết định.
5. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cấp phép hoạt động giáo dục, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động giáo dục, thu hồi quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, thu hồi quyết định cấp phép hoạt động giáo dục, thay đổi địa điểm hoạt động giáo dục hoặc địa điểm đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên nhà trường.”.
16. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 54 như sau:
“3. Nhà đầu tư thành lập cơ sở giáo dục tư thục được lựa chọn một trong các phương thức sau đây:
a) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp để tổ chức kinh tế thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy định của Luật này;
b) Trực tiếp đầu tư thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo quy định của Luật này.
Trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên thì phải thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện việc thành lập cơ sở giáo dục theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.”.
17. Sửa đổi, bổ sung Điều 55 như sau:
“Điều 55. Hội đồng trường
1. Hội đồng trường của cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thành lập theo Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học.
2. Hội đồng trường của trường mầm non dân lập là tổ chức quản trị nhà trường, do cộng đồng dân cư thành lập trường đề cử; chịu trách nhiệm quyết định phương hướng hoạt động, quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục, phù hợp với quy định của pháp luật.
Thành phần hội đồng trường gồm đại diện cộng đồng dân cư, đại diện chính quyền địa phương cấp xã và người góp vốn xây dựng, duy trì hoạt động của nhà trường.
3. Hội đồng trường của trường mầm non tư thục, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục là tổ chức quản trị nhà trường, thực hiện quyền đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định của nhà đầu tư.
Thành phần hội đồng trường của trường mầm non tư thục, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục gồm đại diện nhà đầu tư, thành viên trong và ngoài trường được hội nghị nhà đầu tư bầu, quyết định theo tỷ lệ vốn góp.
4. Thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng trường; mối quan hệ giữa nhà đầu tư với hội đồng trường, hiệu trưởng nhà trường quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này được quy định trong điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường.”.
18. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 61 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú, trường dự bị đại học cho người học là người dân tộc thiểu số, người học thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tổ chức và hoạt động, quy định điều kiện học sinh được học trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú, trường dự bị đại học.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 62 như sau:
“1. Trường chuyên được thành lập ở cấp trung học phổ thông dành cho học sinh đạt kết quả xuất sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu về một số môn học trên cơ sở bảo đảm giáo dục phổ thông toàn diện, tạo nguồn đào tạo nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Trường năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao và các trường năng khiếu khác được thành lập nhằm phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng, kỹ năng chuyên sâu của học sinh trong các lĩnh vực tương ứng.”.
20. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 63 như sau:
“3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường, lớp dành cho người khuyết tật.”.
21. Sửa đổi, bổ sung Điều 66 như sau:
“Điều 66. Nhà giáo trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
1. Nhà giáo trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Nhà giáo cơ hữu là nhà giáo được tuyển dụng và thực hiện chế độ làm việc toàn thời gian tại duy nhất một cơ sở giáo dục;
b) Nhà giáo đồng cơ hữu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học;
c) Nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu là nhà giáo sau khi nghỉ hưu được cơ sở giáo dục ký hợp đồng lao động toàn thời gian để thực hiện nhiệm vụ của nhà giáo;
d) Nhà giáo thỉnh giảng là người được cơ sở giáo dục mời tham gia giảng dạy ít nhất một môn học, mô-đun, học phần, chuyên đề hoặc nội dung trong chương trình giáo dục, chương trình đào tạo do cơ sở giáo dục thực hiện. Nhà giáo thỉnh giảng gồm giáo viên thỉnh giảng và giảng viên thỉnh giảng.
2. Nhà giáo cơ hữu thực hiện theo quy định của Luật Nhà giáo.
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng.”.
22. Bổ sung Điều 66a và Điều 66b vào Mục 2 Chương IV như sau:
“Điều 66a. Cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục
1. Cán bộ quản lý giáo dục được quy định như sau:
a) Cán bộ quản lý giáo dục là công chức và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về công chức;
b) Nhà giáo được cơ quan có thẩm quyền điều động làm cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu các chế độ phụ cấp đối với nhà giáo theo quy định của Chính phủ.
2. Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục được quy định như sau:
a) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập là viên chức quản lý, làm việc ở vị trí việc làm quản lý trong cơ sở giáo dục;
b) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đạt yêu cầu về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo được tham gia thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục đang công tác nếu cơ sở giáo dục có nhu cầu hoặc được kiêm nhiệm công tác giảng dạy nếu cơ sở giáo dục phân công;
d) Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề và các chế độ khác theo quy định của Chính phủ;
đ) Chính phủ quy định thủ tục, quy trình bổ nhiệm cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.
3. Quy định này không áp dụng đối với cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục của lực lượng vũ trang.