Điều 41. Tổ chức Đoàn giám sát của Quốc hội để tiến hành giám sát chuyên đề
1. Căn cứ chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét, thông qua nghị quyết thành lập Đoàn giám sát để tiến hành giám sát chuyên đề.
Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát chủ trì, phối hợp với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát xây dựng dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát, gửi xin ý kiến Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội để trình Quốc hội.
2. Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ mục đích, phạm vi, đối tượng, nội dung giám sát, Trưởng Đoàn giám sát, các Phó Trưởng Đoàn giám sát và cơ cấu thành viên khác tham gia Đoàn giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Trưởng Đoàn giám sát là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Quốc hội, các Phó Trưởng Đoàn là Phó Chủ tịch Quốc hội hoặc Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cơ cấu thành viên khác tham gia Đoàn giám sát gồm đại diện Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội am hiểu về nội dung chuyên đề giám sát và đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại địa phương nơi Đoàn đến làm việc. Đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, các chuyên gia có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm về chuyên đề giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có thể được mời tham gia hoạt động của Đoàn giám sát.
3. Căn cứ nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm:
a) Quyết định thành viên cụ thể tham gia Đoàn giám sát;
b) Điều chỉnh thành phần Đoàn giám sát trong trường hợp cần thiết theo đề nghị của Trưởng Đoàn giám sát;
c) Chỉ đạo Đoàn giám sát xây dựng kế hoạch giám sát (trong đó xác định cụ thể nội dung tập trung giám sát), các đề cương báo cáo, tổ chức triển khai thực hiện và tổng hợp, xây dựng báo cáo kết quả giám sát;
d) Khi xét thấy cần thiết, đề nghị Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp giám sát; Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tổ chức hoạt động giải trình; Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương về các nội dung liên quan đến chuyên đề giám sát.
4. Đoàn giám sát có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng và thông báo kế hoạch giám sát, đề cương báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát, đề cương báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, đề cương báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Quốc hội ban hành nghị quyết thành lập Đoàn giám sát. Thời gian để cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát xây dựng báo cáo và gửi đến Đoàn giám sát do Đoàn giám sát quyết định nhưng không ít hơn 60 ngày kể từ ngày ban hành kế hoạch;
b) Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát giải trình những vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm;
d) Tổ chức Đoàn công tác tiến hành làm việc tại địa phương hoặc Bộ, ngành ở trung ương để khảo sát, thu thập thông tin phục vụ hoạt động giám sát. Thành phần Đoàn công tác gồm một số thành viên của Đoàn giám sát, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu cần thiết); nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn công tác do Trưởng Đoàn giám sát quyết định nhưng không ngoài phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn giám sát. Đoàn giám sát có trách nhiệm thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát về chương trình và thành phần Đoàn công tác chậm nhất 10 ngày trước ngày Đoàn công tác tiến hành làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát;
đ) Tổ chức hội nghị, hội thảo để thu thập thông tin phục vụ hoạt động giám sát khi xét thấy cần thiết;
e) Xem xét báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; khi xét thấy cần thiết, yêu cầu giám định, mời chuyên gia tư vấn, thu thập thông tin, tiếp xúc, trao đổi với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
g) Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, xử lý trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật;
h) Báo cáo kết quả giám sát để Quốc hội xem xét, quyết định.
5. Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát có trách nhiệm giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát giúp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Đoàn giám sát của Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c và d khoản 3, khoản 4 Điều này và xây dựng dự thảo nghị quyết giám sát chuyên đề theo quy định tại khoản 3 Điều 42 của Nghị quyết này; Đoàn đại biểu Quốc hội giúp Quốc hội, Đoàn giám sát của Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.