Điều 15. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật
1. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội kịp thời thực hiện các công việc sau đây:
a) Gửi văn bản đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản đề nghị báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình về nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Tổ chức làm việc với cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để trao đổi, cung cấp thông tin, giải trình, làm rõ các nhận định, đánh giá và đề xuất hướng giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trường hợp cần thiết, gửi văn bản xin ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về nội dung đánh giá và hướng giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội xem xét, đánh giá về các thông tin báo cáo, ý kiến giải trình và đề xuất hướng giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Trường hợp xác định văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật không thống nhất với đề xuất hướng giải quyết của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội thì Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tổ chức lấy ý kiến thành viên Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội bằng văn bản hoặc tổ chức phiên họp để xem xét.
Trường hợp tổ chức phiên họp thì thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Đại diện Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội trình bày báo cáo;
b) Đại diện cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình;
c) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến (nếu có);
đ) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội kết luận về việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
3. Nội dung kết luận phải xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì đề xuất, kiến nghị xử lý như sau:
a) Trường hợp văn bản chưa đúng về căn cứ ban hành, lỗi chính tả hoặc sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản thì kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đính chính theo quy định của pháp luật;
b) Trường hợp văn bản ban hành không đúng thẩm quyền, vi phạm trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản hoặc văn bản có nội dung trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật vi phạm trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy định tại điểm này thuộc một trong các trường hợp sau đây: không tổ chức lấy ý kiến hồ sơ dự thảo văn bản; không thực hiện thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản; văn bản ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn hoặc trong trường hợp đặc biệt nhưng không có sự đồng ý hoặc chỉ đạo của cơ quan, người có thẩm quyền; dự thảo văn bản được thông qua không đúng quy định của pháp luật.
4. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản phải xem xét, thực hiện và thông báo đến Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Quá thời hạn này mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản không thực hiện kiến nghị hoặc thực hiện không đáp ứng yêu cầu thì Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền sau đây:
a) Kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
5. Kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật phải được báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hồ sơ báo cáo kết quả giám sát bao gồm: Báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá đối với văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật và kết luận, kiến nghị; ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật (nếu có).
6. Kết luận, kiến nghị giám sát được gửi đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện.
Mục 3. ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI GIÁM SÁT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT