Điều 3
Những căn cứ, trình tự và thẩm quyền giao vùng nước để khai thác, nuôi trồng hoặc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
1- Những căn cứ để xem xét khi giao vùng nước.
a) Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng vùng nước để khai thác, nuôi trồng hoặc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt (quy định tại điều 17 của Pháp lệnh).
b) Căn cứ vào mục đích, yêu cầu sử dụng vùng nước của tổ chức, cá nhân đã ghi trong luận chứng kinh tế - kỹ thuật được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
c) Những vùng nước được giao phải là vùng nước nằm trong quy hoạch đã được duyệt.
2- Trình tự và quy định khi xem xét giao vùng nước.
a) Tổ chức, cá nhân xin sử dụng vùng nước để khai thác, nuôi trồng hoặc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản phải làm đơn, kèm theo luận chứng kinh tế - kỹ thuật đã được duyệt và có chứng nhận của chính quyền nơi mình ở, nộp cho cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định khi giao vùng nước.
b) Việc giao vùng nước đang sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi vùng nước đó của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định tại mục b khoản 6 của điều này.
c) Cơ quan có thẩm quyền xem xét ra quyết định giao vùng nước cho tổ chức, cá nhân sử dụng phải làm xong không quá 90 ngày kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ.
3- Thẩm quyền giao vùng nước:
a) Việc giao vùng nước thuộc phần đất nông nghiệp (ruộng) và các vùng nước thuộc đất chuyên dùng như: ao, hồ, đầm phá, sông cụt cho tổ chức, cá nhân khai thác, nuôi trồng, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản thực hiện theo quy định tại điều 13 về thẩm quyền giao đất của Luật đất đai.
b) Việc giao các vùng nước thuộc sông lớn, vùng lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cho tổ chức, cá nhân, kể cả người nước ngoài khai thác, nuôi trồng, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản có quy định riêng và do Hội đồng Bộ trưởng quyết định.
4- Cấp giấy chứng nhận sử dụng vùng nước và giải quyết tranh chấp:
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vùng nước, việc thanh tra giải quyết tranh chấp quyền sử dụng vùng nước và thu nộp lệ phí khi làm thủ tục nhận vùng nước thực hiện theo quy dịnh tại các điều 13, 14, 15, 16, 17 của Nghị định số 30-HĐBT ngày 23-3-1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Luật đất dai.
5- Thời hạn sử dụng vùng nước:
Thời hạn cho phép tổ chức, cá nhân nhận vùng nước nói tại mục a khoản 3 của điều này để khai thác, nuôi trồng hoặc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản từ 5 năm trở lên, do cơ quan có thẩm quyền giao vùng nước quyết định.
6- Thẩm quyền thu hồi vùng nước:
a) Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần vùng nước đã giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng để khai thác, nuôi trồng hoặc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trong các trường hợp sau đây:
Tổ chức được giao vùng nước bị giải thể hoặc chuyển đi nơi khác.
Tất cả số người trong hộ sử dụng vùng nước đã chuyển đi nơi khác hoặc đã chết mà không có người thừa kế hợp pháp.
Người sử dụng, bảo vệ vùng nước tự nguyện trả lại vùng nước được giao.
Vùng nước giao sử dụng và bảo vệ đã hết thời hạn.
Tổ chức, cá nhân sử dụng vùng nước được giao không tiến hành khai thác, nuôi trồng; không thực hiện việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, sử dụng vùng nước không mục đích, không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, hoặc sử dụng vùng nước được giao không có hiệu quả.
Tổ chức, cá nhân được giao vùng nước đã vi phạm nghiêm trọng những quy dịnh về sử dụng vùng nước.
Thời hạn sử dụng vùng nước chưa hết nhưng Nhà nước có nhu cầu sử dụng vùng nước đã giao để phát triển kinh tế - xã hội.
b) Cơ quan Nhà nước quyết định giao vùng nước nào thì có quyền quyết định thu hồi vùng nước đó.