Điều 22
1- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo trước cho người lao động theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh này khi có một trong những trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ theo hợp đồng hoặc bỏ việc liên tục mà không có lý do chính đáng;
b) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản, lợi ích của xí nghiệp, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh;
c) Người lao động ốm đau, bị thương tật đã điều trị sáu tháng liền mà khả năng lao động chưa thể hồi phục lại được ;
d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những nguyên nhân bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục, nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
đ) Cơ quan, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh giải thể hoặc tài sản bị thanh lý.
2- Khi chấm dứt hợp đồng lao động theo điểm a và điểm c, khoản 1, Điều này phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nếu người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì phải tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc người đại diện của tập thể người lao động.
b) Nếu người sử dụng lao động thuộc thành phần kinh tế quốc doanh phải theo quy định tại khoản 2, Điều 12 của Luật công đoàn.
3- Khi chấm dứt hợp dồng lao động theo điểm d và điểm đ, khoản 1, Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước và phải được sự thoả thuận của cơ quan lao động địa phương.
4- Việc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1, Điều này, đối với người lao động là Chủ tịch hoặc uỷ viên Ban chấp hành công đoàn, thì phải theo quy định tại khoản 4, Điều 15 của Luật công đoàn; đối với người lao động là người đại diện của tập thể lao động, thì phải tham khảo ý kiến của tập thể người lao động.