Điều 3. Công tác lập, phân bổ, giao dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí
Việc lập, phân bổ, giao dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí Đề án thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn. Ngoài ra, Thông tư này hướng dẫn bổ sung một số điểm cụ thể như sau:
1. Lập dự toán
a) Hàng năm, căn cứ Chỉ thị lập kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, văn bản hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân tỉnh (sau đây gọi tắt là UBND tỉnh); trên cơ sở kế hoạch, mục tiêu của Đề án tại địa phương đã được cấp thẩm quyền phê duyệt và chế độ quy định tại Thông tư này, Uỷ ban nhân dân huyện nghèo có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg (cùng với kinh phí thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ) đối với các nhiệm vụ do địa phương thực hiện quy định tại khoản 1, Điều 2 Thông tư này, theo từng chế độ, chính sách hỗ trợ và cùng với dự toán ngân sách huyện gửi Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan tổng hợp cùng dự toán ngân sách tỉnh, trình UBND tỉnh gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
b) Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng hợp vào dự toán ngân sách hàng năm của Bộ đối với kinh phí thực hiện xây dựng chương trình, tài liệu bổ túc kiến thức văn hoá theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư này.
c) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổng hợp vào dự toán ngân sách hàng năm của Bộ đối với kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trực tiếp thực hiện và tổng hợp kinh phí thực hiện của các địa phương gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp.
d) Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ do Ngân hàng thực hiện gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp.
2. Phân bổ và giao dự toán
a) Hàng năm, căn cứ tổng mức kinh phí của Đề án được cấp có thẩm quyền thông báo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan phân bổ kinh phí cho các tỉnh có huyện nghèo phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ thực hiện trong năm. Kết quả phân bổ gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp chung vào dự toán ngân sách của các địa phương trình Thủ tướng Chính phủ để trình Quốc hội theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
b) Đối với Bộ Lao động – Thương binh và xã hội: căn cứ dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao, thực hiện phân bổ dự toán cho các đơn vị trực thuộc thực hiện chính sách, hoạt động của Đề án.
c) Đối với các tỉnh có huyện nghèo: Trên cơ sở dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ giao, nguồn ngân sách địa phương, vốn lồng ghép các Chương trình, dự án, mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn huy động hợp pháp để thực hiện các chế độ, chính sách theo quy định tại Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ở địa phương, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan phân bổ kinh phí thực hiện Đề án cho từng huyện nghèo, báo cáo UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định trong dự toán ngân sách địa phương hàng năm.
Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, UBND cấp tỉnh giao dự toán ngân sách cho các huyện, Uỷ ban nhân dân huyện (trình Hội đồng nhân dân huyện nếu chưa thực hiện thí điểm bỏ Hội đồng nhân dân huyện) quyết định trong dự toán ngân sách huyện và phương án phân bổ ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị thực hiện.
d) Sau khi nhận được quyết định giao dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách tiến hành phân bổ dự toán được giao chi tiết đến loại, khoản của mục lục ngân sách nhà nước gửi cơ quan Tài chính cùng cấp đồng gửi Kho bạc nhà nước nơi giao dịch để phối hợp thực hiện và rút dự toán.
3. Chấp hành dự toán
a) Căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước của đơn vị được cấp có thẩm quyền giao, các đơn vị thực hiện rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch.
b) Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát, cấp phát, thanh toán theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước; các chế độ chi tiêu và các quy định tại Thông tư này.
c) Các đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách của Đề án có trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, đúng đối tượng và hiệu quả.
4. Công tác hạch toán, quyết toán
a) Các đơn vị sử dụng ngân sách của Đề án có trách nhiệm hạch toán và quyết toán kinh phí thực hiện các chính sách, hoạt động của Đề án theo từng loại, khoản, mục và tiểu mục tương ứng của Mục lục Ngân sách Nhà nước, Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn hiện hành.
b) Đối với những chính sách, hoạt động của Đề án do cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp thực hiện thông qua hình thức hợp đồng với cơ quan chủ trì Đề án thì chứng từ làm căn cứ thanh, quyết toán được lưu tại cơ quan chủ trì Đề án gồm: Hợp đồng thực hiện nhiệm vụ (kèm theo dự toán chi tiết được cơ quan chủ trì Đề án phê duyệt), biên bản nghiệm thu công việc, biên bản thanh lý hợp đồng, uỷ nhiệm chi hoặc phiếu chi và các tài liệu có liên quan khác. Các chứng từ chi tiêu cụ thể do cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp thực hiện Đề án lưu giữ theo quy định hiện hành.
5. Chế độ báo cáo và kiểm tra, giám sát
a) Chế độ báo cáo
- Hàng năm, sau khi hoàn thành việc phân bổ, giao dự toán ngân sách cho các cấp ngân sách tại địa phương, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổng hợp kết quả phân bổ, giao dự toán kinh phí thực hiện Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg tại địa phương báo cáo UBND tỉnh, gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định.
- Định kỳ, 6 tháng (trước ngày 15 tháng 7) và hàng năm (trước ngày 15 tháng 01 năm sau), UBND các tỉnh, các Bộ, ngành tham gia Đề án chịu trách nhiệm báo cáo tình hình và kết quả thực hiện Đề án gửi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm tổng hợp đánh giá và báo cáo Chính phủ tình hình thực hiện mục tiêu, nội dung và kết quả sử dụng kinh phí của Đề án.
b) Kiểm tra, giám sát
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra, tổng hợp đánh giá tình hình sử dụng kinh phí của Đề án đảm bảo đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả.
- Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp phân bổ và sử dụng kinh phí không đúng mục tiêu, đối tượng; không thực hiện đúng quy định về chế độ báo cáo thì cơ quan chủ trì Đề án có văn bản gửi cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch đề nghị dừng thanh toán, đồng thời tuỳ theo mức độ vi phạm trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý theo quy định và xem xét, quyết định đưa ra ngoài danh sách đối tượng thực hiện Đề án.
MỤC II. QUY ĐỊNH CỤ THỂ