Điều 6.
Mọi công dân Việt Nam có sức lao động, tư liệu sản xuất, tiền vốn và kỹ thuật đều có quyền đề nghị và được Nhà nước xét để giao cho sử dụng một diện tích đất đai, mặt nước (gọi chung là đất đai) nhất định để tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Hộ có nhu cầu phải có đơn đề nghị gửi đến Uỷ ban Nhân dân các cấp có thẩm quyền xem xét theo Luật Đất đai.
- Căn cứ vào điều kiện cụ thể về đất đai của địa phương, Uỷ ban Nhân dân các cấp được uỷ quyền cấp đất theo Luật Đất đai xem xét quyết định, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai theo nguyên tắc:
Đối với đất trống, đồi núi trọc để trồng rừng và các loại cây lâu năm, Nhà nước giao cho mỗi hộ cá thể, xí nghiệp tư doanh một diện tích không hạn chế tuỳ thuộc vào khả năng sử dụng; thời gian sử dụng được giao ổn định ít nhất từ 30 đến 50 năm, khi hết thời hạn có thể xem xét để gia hạn thêm.
Đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây đặc sản, đất dùng cho sản xuất lương thực, thực phẩm (kể cả đồi trọc, nếu có) đất làm vườn, rẫy, đất cho chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản giao ổn định khoảng 15 năm.
Đối với rừng tự nhiên, tuỳ theo điều kiện cụ thể từng nơi và hiện trạng của rừng Nhà nước giao cho các thành phần kinh tế này tổ chức sản xuất kinh doanh, chăm sóc bảo vệ dưới nhiều hình thức khác nhau như giao khoán, đấu thầu... trên cơ sở xác định đúng giá trị ban đầu của rừng do hai bên thoả thuận. Người nhận rừng có trách nhiệm bảo đảm tăng không ngừng và cải thiện cơ cấu các loại cây của vốn rừng đó.
Đối với diện tích mặt nước lớn có điều kiện đưa vào nuôi trồng thuỷ sản, Nhà nước tổ chức giao khoán hoặc đấu thầu cho các hộ kinh tế cá thể hoặc xí nghiệp tư doanh sản xuất kinh doanh.
Hộ kinh tế cá thể, xí nghiệp tư doanh được phép mua lại cơ sở vật chất kỹ thuật hoặc nhận thầu một bộ phận hay toàn bộ xí nghiệp quốc doanh nông, lâm, ngư nghiệp khi xí nghiệp đó giải thể từng phần hay toàn bộ.