Điều 5. Bố trí nơi tạm giữ tang vật, phương tiện
1. Nơi tạm giữ tang vật, phương tiện trong Công an nhân dân có thể là nơi tạm giữ tang vật, phương tiện riêng của một đơn vị Công an, nơi tạm giữ tang vật, phương tiện chung của nhiều đơn vị Công an khác nhau hoặc nơi tạm giữ tang vật, phương tiện chung của cơ quan Công an với các cơ quan khác ở địa phương.
Đối với đơn vị thường xuyên phải tạm giữ tang vật, phương tiện với số lượng lớn thì người đứng đầu đơn vị đó báo cáo Giám đốc Công an cấp tỉnh để đề nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét cất đất, kinh phí xây dựng nơi tạm giữ.
Khi được cấp đất, kinh phí xây dựng nơi tạm giữ, cơ quan tạm giữ tang vật, phương tiện chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng để tổ chức việc thiết kế và xây dựng nơi tạm giữ bảo đảm đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại Điều 4 Thông tư này, tiêu chuẩn về xây dựng, phòng, chống cháy, nổ và tiêu chuẩn môi trường theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp cơ quan tạm giữ tang vật, phương tiện chưa đủ điều kiện để xây dựng nơi tạm giữ hoặc quy mô xây dựng nơi tạm giữ không đủ để bảo quản hết tang vật, phương tiện bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ tang vật, phương tiện có thể báo cáo thủ trưởng cơ quan cấp đó để đề nghị thuê nơi tạm giữ riêng của cơ quan đó, nếu phải thường xuyên tạm giữ với số lượng lớn.
Việc thuê nơi tạm giữ phải ký kết hợp đồng. Nội dung hợp đồng phải đáp ứng các yêu cầu của một hợp đồng gửi giữ tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự và các yêu cầu của hoạt động quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, trong đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau: đối tượng của hợp đồng; giá; phương thức thanh toán; thời hạn, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng và các nội dung khác.
3. Trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện với số lượng ít hoặc tang vật, phương tiện là những vật nhỏ, gọn mà xét thấy không cần thiết phải chuyển đến nơi tạm giữ là nhà kho, bến, bãi thì người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện có thể quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện tại trụ sở cơ quan, nơi làm việc của mình. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện phải giao tang vật, phương tiện bị tạm giữ cho cán bộ có đủ khả năng và điều kiện quản lý.
4. Trường hợp tang vật, phương tiện bị tạm giữ là những vật mà cơ quan tạm giữ tang vật, phương tiện đó không đủ điều kiện về phương tiện, kỹ thuật để di chuyển về nơi tạm giữ hoặc nếu di chuyển về nơi tạm giữ thì nơi tạm giữ không đủ các điều kiện cần thiết để bảo quản thì người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ có thể giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc giao cho cá nhân, tổ chức có tang vật, phương tiện bị tạm giữ quản lý, bảo quản, nếu xét thấy việc giao cho cá nhân, tổ chức có tang vật, phương tiện bị tạm giữ quản lý, bảo quản không ảnh hưởng đến việc bảo đảm xử lý vi phạm hành chính.
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc cá nhân, tổ chức được giao quản lý tang vật, phương tiện cần bố trí nơi tạm giữ đáp ứng được các yêu cầu theo quy định tại Điều 4 Thông tư này và phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo quản tốt tài sản được giao, chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện. Nếu tài sản bị mất mát, hư hỏng do lỗi của mình gây ra thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
5. Trong trường hợp không thể bố trí nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều này thì nơi tạm giữ tang vật, phương tiện là nơi do người có thẩm quyền tạm giữ bố trí nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu theo quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 4 Thông tư này.