Điều 12. Huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm
1. Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm bị hủy bỏ trong các trường hợp sau đây:
a)
Việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án bị đình chỉ;
b)
Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm không còn cần thiết;
c) Bị can, bị cáo bị bắt tạm giam về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc về tội phạm do vô ý thực hiện sau khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm;
d) Bị can, bị cáo chết;
đ) Bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan;
e) Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm;
g) Bị can, bị cáo không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có lý do chính đáng;
h) Bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội do cố ý;
i) Bị can, bị cáo có hành vi tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;
k) Có chứng cứ chứng minh rằng, bị can, bị cáo sẽ bỏ trốn, tiêu huỷ hoặc che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;
l)
Bị can, bị cáo bỏ trốn.
2. Việc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm được thực hiện như sau:
a)
Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án ra
quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm; nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đề nghị Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
b) Đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm. Trường hợp Tòa án tuyên bị cáo không có tội hoặc áp dụng các hình phạt không giam giữ đối với bị cáo thì cùng với việc ra bản án, Hội đồng xét xử ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm phải ra quyết
định huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.
d) Đối với trường hợp quy định tại các điểm g, h, i và k khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, đồng thời, ra quyết định tạm giam đối với bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật; trường hợp vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đó ra lệnh bắt bị can để tạm giam và đề nghị Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với vụ án
hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam.
đ) Đối với trường hợp quy định tại điểm l khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, đồng thời, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, bị cáo; trường hợp vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đề nghị Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án
ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp này, sau đó ra quyết định truy nã bị can.
3. Quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền bảo đảm phải ghi rõ việc xử lý đối với tiền đã đặt để bảo đảm và phải được giao cho bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, người được bị can, bị cáo ủy quyền (trong trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này), đồng thời, gửi cho cơ quan là chủ tài khoản tạm giữ và Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan tài chính trong Quân đội đang quản lý tiền đã được đặt để bảo đảm.