Điều 4: Thành lập ngạch trọng tài viên thuộc hệ thống các cơ quan trọng tài kinh tế:
a. Nhiệm vụ, quyền hạn của trọng tài viên:
Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước, xét xử các vụ tranh chấp về hợp đồng kinh tế theo sự phân công của người đứng cơ quan trọng tài kinh tế cùng cấp nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ký hợp đồng.
Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước về hợp đồng kinh tế, về trọng tài kinh tế, xử phạt vi phạm hợp đồng kinh tế và buộc bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại gây ra.
Trong trường hợp cần thiết, kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm đối với những tổ chức và cá nhân phạm lỗi, gây ra vụ vi phạm hợp đồng kinh tế, làm thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa.
Thanh tra việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế nhằm phòng ngừa các vụ vi phạm kỷ luật hợp đồng kinh tế.
Thông qua công tác xét xử các vụ tranh chấp về hợp đồng kinh tế và công tác thanh tra việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế, phát hiện thiếu sót của đơn vị kinh tế cơ sở và các cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị kinh tế cơ sở trong việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế và các chính sách, chế độ quản lý có liên quan; tìm ra nguyên nhân và kiến nghị những biện pháp nhằm khắc phục, ngăn ngừa các thiếu sót trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế; hướng mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng pháp luật của Nhà nước.
Trong khi xét xử hoặc thanh tra, trọng tài viên phải thuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà nước về nghiệp vụ xét xử, về nghiệp vụ thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.
Các quyết định của trọng tài viên đều có hiệu lực thi hành đối với các đương sự và các cơ quan, tổ chức có liên quan; nếu không đồng ý với quyết định của trọng tài viên, các đương sự có quyền kháng cáo, nhưng trong khi chờ đợi giải quyết, vẫn phải chấp hành quyết định đó.
b. Tiêu chuẩn của trọng tài viên:
Trọng tài viên thuộc Trọng tài kinh tế Nhà nước và Trọng tài kinh tế bộ, tổng cục phải là cán bộ cấp vụ hoặc tương đương. Trọng tài viên thuộc trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, và đặc khu trực thuộc Trung ương phải là cán bộ cấp sở, ty hoặc tương đương.
Trọng tài viên phải là người trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất chính trị tốt, liên khiết, công minh, có kiến thức pháp lý và kiến thức quản lý kinh tế cần thiế, hiểu biết về nghiệp vụ Trọng tài kinh tế và có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
c. Số lượng trọng tài viên:
Số lượng trọng tài viên được quy định như sau:
Ở Trọng tài kinh tế Nhà nước có từ 7 đến 9 trọng tài viên;
Ở Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục có từ 3 đến 5 trọng tài viên;
Ở Trọng tài kinh tế Tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương có từ 3 đến 5 trọng tài viên;
d. Thủ tục bổ nhiệm và bãi miến trọng tài viên:
Trọng tài viên chính thức thuộc Trọng tài kinh tế Nhà nước do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm và bãi miễn. Trọng tài viên dự bị thuộc Trọng tài kinh tế Nhà nước do chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước bổ nhiệm và bãi miễn.
Trọng tài viên thuộc Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục do Bộ trưởng, Tổng cục trưởng bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thoả thuận với chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.
Trọng tài viên thuộc Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thoả thuận với chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.
Trọng tài viên có thể vị bãi miễn trong trường hợp không đảm đương được nhiệm vụ được giao, vi phạm nghiêm trọng những quy định ở điểm b, Điều 4 của nghị định này hoặc là vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Nhà nước.