Điều 5 - Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ trưởng đối với các đơn vị thuộc ngành:
1. Đối với các đơn vị do Bộ trực tiếp quản lý:
a. Ngoài nhiệm vụ và quyền hạn quy định ở điều 4 trên đây, Bộ trưởng còn có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Chỉ đạo các đơn vị hoàn thành kế hoạch Nhà nước và nhiệm vụ công tác được giao, với chi phí ít nhất và hiệu quả lớn nhất;
- Xét duyệt các kế hoạch, các nhiệm vụ công tác, các bảng cân đối, các quy trình, quy phạm kỹ thuật và các định mức, tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật;
- Xây dựng tổ chức và bảo đảm các điều kiện về lao động, phương tiện vật tư, tiền vốn cho các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả;
- Điều hoà, phối hợp hoạt động của các đơn vị; giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ công tác vượt quá thẩm quyền của các đơn vị trực thuộc.
b. Trong trường hợp đã thành lập liên hiệp các xí nghiệp hoặc công ty, thì Bộ trưởng thông qua giám đốc liên hiệp các xí nghiệp, công ty mà chỉ đạo các cơ sở.
c. Đơn vị xí nghiệp đóng tại địa phương nào, thì Bộ có nhiệm vụ thông báo cho Uỷ ban nhân dân địa phương đó biết kế hoạch sản xuất, kinh doanh xây dựng cơ bản và những chỉ thị công tác quan trọng mà Bộ gửi cho đơn vị. Uỷ ban nhân dân địa phương có nhiệm vụ giúp đỡ và kiểm tra đơn vị này thực hiện các kế hoạch hoặc chỉ thị ấy, và thực hiện chức năng quản lý lãnh thổ của chính quyền địa phương đối với đơn vị này theo quy định của pháp luật Nhà nước.
2. Đối với các đơn vị thuộc ngành do địa phương quản lý:
a. Chỉ đạo việc lập quy hoạch phát triển ngành, phân công quản lý giữa cơ quan trung ương và địa phương.
b. Hướng dẫn việc lập kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm (về phần thuộc ngành), tổng hợp các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch ấy vào kế hoạch của toàn ngành.
c. Quyết định các chủ trương công tác của ngành hoặc lĩnh vực mình phụ trách thuộc phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của Bộ, và chỉ đạo các địa phương thực hiện; cung cấp cho địa phương cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật và cung ứng cho các đơn vị những vật tư, thiết bị chuyên dùng trong phạm vi quản lý của Bộ.
d. Hướng dẫn, giúp đỡ Uỷ ban nhân dân địa phương trong việc thực hiện chức năng quản lý đối với các đơn vị thuộc ngành địa phương.
e. Kiểm tra các cơ quan quản lý ngành và các cơ sở thuộc ngành ở địa phương trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chế độ v.v... của ngành, trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh (bao gồm cả việc giao nộp sản phẩm hoặc tài chính cho Nhà nước).
g. Uỷ ban nhân dân địa phương thông báo cho Bộ chủ quản ngành biết những nhiệm vụ kế hoạch, nhiệm vụ công tác, chỉ tiêu ngân sách và chỉ thị công tác của Uỷ ban nhân dân đã gửi cho các đơn vị thuộc quyền trực tiếp quản lý của địa phương.
Nếu Uỷ ban nhân dân địa phương muốn ra những quyết định, chỉ thị làm thay đổi kế hoạch ngành ở địa phương, hoặc làm ảnh hưởng đến việc thi hành thống nhất các chính sách, chế độ quản lý ngành, thì Uỷ ban nhân dân phải bàn bạc nhất trí với Bộ chủ quản trước khi ra quyết định hoặc trước khi trình Chính phủ quyết định (đối với vấn đề thuộc thẩm quyền Chính phủ).
3. Đối với các đơn vị thuộc ngành do các Bộ khác trực tiếp quản lý:
Theo sự phân công của Chính phủ, phối hợp với các Bộ chủ quản:
a. Hướng dẫn các đơn vị này xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch theo sự phân công sản xuất, kinh doanh, hoạt động sự nghiệp; thực hiện chính sách khoa học và kỹ thuật, hoặc chính sách nghiệp vụ chuyên ngành.
b. Kiểm tra các đơn vị này chấp hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức và những công việc thuộc quyền quản lý thống nhất của Bộ chủ quản ngành.
Phần 2:
CHỨC NĂNG CỦA BỘ TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC QUẢN LÝ CỤ THỂ
Chương 1:
TRONG LĨNH VỰC QUY HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH HOÁ