Điều 2: Sửa đổi Điều 11 như sau:
1- Hội đồng nhân dân xã, phường và thị trấn.
Xã, phường và thị trấn miền xuôi có từ 2. 000 người trở xuống được bầu cử 20 đại biểu; có trên 2.000 người thì cứ thêm 200 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 50 đại biểu.
Các xã dưới 300 người được bầu từ 15 đến 20 đại biểu.
2- Hội đồng nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã.
Huyện miền xuôi và quận có từ 50.000 người trở xuống được bầu cử 40 đại biểu; có trên 50.000 thì cứ thêm 4.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 70 đại biểu.
Huyện miền núi và hải đảo có từ 20.000 người trở xuống được bầu cử 40 đại biểu; có trên 20.000 người được thì cứ thêm từ 1.500 người đến 2.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 70 đại biểu.
Thành phố thuộc tỉnh có từ 60.000 người trở xuống được bầu cử 50 đại biểu; có trên 60.000 người thì cứ thêm 5.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 80 đại biểu.
Thị xã có từ 20.000 người trở xuống được bầu cử 40 đại biểu; có trên 20.000 người thì cứ thêm 2.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 70 đại biểu.
3- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đặc khu Vũng tàu - Côn đảo.
Tỉnh miền xuôi có từ 500.000 người trở xuống được bầu cử 70 đại biểu; có trên 500.000 người thì cứ thêm 20.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 140 đại biểu.
Tỉnh miền núi có từ 250.000 người trở xuống được bầu cử 70 đại biểu; có trên 250.000 người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 140 đại biểu.
Thành phố trực thuộc trung ương có từ 600.000 người trở xuống được bầu cử 70 đại biểu; có trên 600.000 người thì cứ thêm 20.000 người được bầu thêm 1 đại biểu.
Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được bầu không quá 160 đại biểu.
Thành phố Hải phòng được bầu không quá 140 đại biểu.
Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được bầu 50 đại biểu.