Điều 7. Xây dựng dự toán
1. Các nhiệm vụ KH&CN phải được lập dự toán kinh phí theo biểu mẫu thống nhất do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, trong đó dự toán của các nhiệm vụ KH&CN phải được lập theo từng nội dung công việc và phân thành 2 loại: kinh phí khoán chi và kinh phí không khoán chi;
2. Nội dung chi để thực hiện nhiệm vụ KH&CN được áp dụng theo các quy định tại Thông tư Liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tài chính-Bộ Khoa học và Công nghệ về Hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là Thông tư 44);
3. Định mức chi để thực hiện nhiệm vụ KH&CN về áp dụng định mức chi quy định tại Thông tư 44 và các định mức quy định tại các Quyết định do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, bao gồm:
- Quyết định 166/QĐ-BNN-TC ngày 14 tháng 01 năm 2008 quy định về công tác phí hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực KH&CN;
- Quyết định 2284/QĐ-BNN-KHCN ngày 13 tháng 08 năm 2009 về định mức kinh tế kỹ thuật tạm thời xây dựng dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN trong lĩnh vực thú y sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước;
- Quyết định 2419/QĐ-BNN-KHCN ngày 26 tháng 08 năm 2009 về định mức kinh tế kỹ thuật tạm thời xây dựng dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN trong lĩnh vực chăn nuôi sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước;
- Quyết định 1345/QĐ-BNN-KHCN ngày 11 tháng 5 năm 2009 về định mức kinh tế kỹ thuật tạm thời xây dựng dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN trong lĩnh vực Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước.
4. Đối với các lĩnh vực chưa có hệ thống định mức được cấp có thẩm quyền ban hành, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến khích các tổ chức KH&CN xây dựng định mức tạm thời, trình Bộ phê duyệt làm cơ sở xây dựng dự toán và thực hiện khoán chi;
5. Đơn giá tính dự toán, ngoài việc áp dụng định mức và đơn giá tại các Thông tư của các Bộ/Ngành, thống nhất một số mức chi như sau:
a) Đơn giá công lao động:
- Công lao động kỹ thuật được tính tối đa bằng tiền lương và các khoản phải đóng góp theo lương của 01 cán bộ khoa học ở bậc lương bình quân chung của khối cán bộ khoa học, với hệ số là 3,33. Công lao động kỹ thuật chỉ được tính cho số lao động hợp đồng tham gia thực hiện đề tài, dự án. Đối với cán bộ khoa học trong biên chế, hưởng lương của các tổ chức KH&CN nếu phải thực hiện các công việc của đề tài, dự án ngoài giờ thì được tính công ngoài giờ theo qui định;
- Đối với công lao động phổ thông, Thủ trưởng tổ chức chủ trì và chủ trì đề tài, dự án căn cứ giá cả thị trường ở từng khu vực phù hợp với từng thời điểm lập dự toán để xác định, mức chi tối đa bằng 80% công kỹ thuật;
- Đối với các công việc phải thuê chuyên gia trong nước áp dụng hình thức hợp đồng theo thời gian thực hiện theo quy định tại Thông tư số 18/2010/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 6 năm 2010 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Quy định tiền lương đối với chuyên gia tư vấn trong nước thực hiện gói thầu tư vấn và áp dụng hình thức hợp đồng theo thời gian thuộc dự án sử dụng vốn nhà nước;
- Trường hợp cần thuê chuyên gia nước ngoài thì căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và khả năng kinh phí, thủ trưởng đơn vị chủ trì đề tài, dự án và cá nhân chủ trì đề tài, dự án quyết định mức chi theo hợp đồng thực tế thoả thuận với chuyên gia đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
b) Áp dụng hình thức “chuyên đề”:
- Khái niệm “chuyên đề” và mức chi cho 01 chuyên đề thực hiện theo Thông tư 44
- Mức chi cho 01 chuyên đề là phần thuê khoán chuyên môn (tiền công), không bao gồm phần chi về vật tư làm thí nghiệm
- Chủ trì đề tài, dự án chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chuyên đề, bao gồm: xây dựng đề cương, giao nhiệm vụ, nghiệm thu nội dung, thanh lý hợp đồng và quyết toán kinh phí của chuyên đề.
- Căn cứ nội dung của nhiệm vụ KH&CN, Thủ trưởng đơn vị chủ trì nhiệm vụ thẩm định và phê duyệt số lượng, loại chuyên đề và kinh phí cho các chuyên đề thuộc nhiệm vụ cấp cơ sở; Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thẩm định số lượng và loại “chuyên đề”, Vụ Tài chính thẩm định kinh phí “chuyên đề” cho các đề tài, dự án KH&CN cấp Bộ và trình Bộ phê duyệt.
c) Đối với các loại vật tư, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ có giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành thì giá này là cơ sở để lập dự toán; Đối với các loại vật tư, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ không có giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành Thủ trưởng tổ chức chủ trì và chủ trì đề tài, dự án căn cứ giá cả thị trường ở thời điểm lập dự toán để xác định đơn giá.
6. Dự toán chi đoàn ra, đoàn vào, tổ chức hội nghị, hội thảo thực hiện theo hướng dẫn tại các Thông tư của Bộ Tài chính: Thông tư số 91/2005/TT-BTC ngày 18 tháng 10 năm 2005 Quy định chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí, Thông tư số 01/2010/TT-BTC ngày 06 tháng 01 năm 2010 Quy định chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiếp khách trong nước và số 97/2010/TT-BTC ngày 06 tháng 7 năm 2010 Quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.Trên cơ sở thẩm định, xác nhận nội dung đoàn ra, đoàn vào của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thủ trưởng đơn vị căn cứ theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện, đảm bảo không vượt mức trần đã được phê duyệt của các nội dung tương ứng trong Thuyết minh đề tài, dự án.
7. Nội dung chi được giao khoán và không được giao khoán
Nội dung chi được giao khoán và không được giao khoán thực hiện theo Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN ngày 04 tháng 10 năm 2006 của Bộ Tài chính-Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là Thông tư 93).
8. Các nội dung, mức chi quy định tại Điều này là căn cứ xây dựng dự toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án. Dự toán kinh phí và phân bổ kinh phí được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt là mức tối đã để thực hiện đề tài, dự án.