Điều 5. Một số mức chi cụ thể theo nguồn kinh phí sự nghiệp
1. Một số mức chi chung:
Mức chi cho một số hoạt động của Chương trình thực hiện theo các quy định hiện hành, cụ thể như sau:
a) Hội nghị, hội thảo, tập huấn, đi công tác trong nước, tăng cường giáo dục, tuyên truyền phổ biến thông tin, vận động cộng đồng, nâng cao nhận thức, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường thực hiện theo quy định tại Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 06 tháng 7 năm 2010 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Chi đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài thực hiện theo quy định tại Thông tư số 102/2012/TT- BTC ngày 21 tháng 6 năm 2012 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức Nhà nước đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách Nhà nước đảm bảo kinh phí;
b) Biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo theo yêu cầu của Chương trình thực hiện theo theo quy định tại Thông tư số 123/2009/TT-BTC ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Bộ Tài chính quy định nội dung chi, mức chi xây dựng chương trình khung và biên soạn chương trình, giáo trình các môn học đối với các ngành đào tạo Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp;
c) Tổ chức các cuộc thi về tiết kiệm năng lượng thực hiện theo quy định tại Thông tư số 101/2009/TT-BTC ngày 20 tháng 5 năm 2009 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm thực hiện các dự án, chương trình thuộc đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015”; các cuộc thi tòa nhà hiệu quả năng lượng quốc gia, các cuộc thi thiết kế, ứng dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà thực hiện theo quy định tại Thông tư số 52/2007/TT-BTC ngày 21 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ tài chính cho hoạt động hội thi sáng tạo kỹ thuật;
d) Chi đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức;
đ) Chi điều tra khảo sát thực hiện theo quy định tại Thông tư số 58/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 5 năm 2011 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện các cuộc điều tra thống kê;
e) Chi tạo lập thông tin điện tử thực hiện theo quy định tại Thông tư số 194/2012/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử;
g) Chi xây dựng các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, quy chuẩn, tiêu chuẩn về chiếu sáng công cộng hiệu suất cao, chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, chi xây dựng định mức sử dụng năng lượng trong một số loại hình sản xuất và tòa nhà thực hiện theo quy định tại Thông tư số 145/2009/TTLT-BTC-BKHCN ngày 17 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học Công nghệ hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí xây dựng tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật;
h) Đối với dự án/chương trình sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): thực hiện theo mức chi quy định tại Thông tư số 219/2009/TT- BTC ngày 19 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài chính và Thông tư số 192/2011/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2011 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2009/TT-BTC quy định một số định mức chi tiêu áp dụng cho các dự án/chương trình sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).
2. Một số mức chi đặc thù
a) Chi xây dựng mô hình:
- Đối với mô hình sử dụng tiết kiệm năng lượng trong mỗi hộ gia đình, ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% chi phí vật tư, thiết bị nhưng tối đa không quá 1.000.000 đồng/mô hình (mô hình bình đun nước bằng năng lượng mặt trời hoặc hầm biogas);
- Riêng đối với hộ nghèo, thực hiện theo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015, mức ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối đa bằng hai lần so với qui định đối với mô hình sử dụng tiết kiệm năng lượng trong mỗi gia đình nêu trên;
- Đối với mô hình về quản lý năng lượng trong các tòa nhà, doanh nghiệp, ngân sách Nhà nước hỗ trợ 50% chi phí tư vấn và triển khai áp dụng mô hình nhưng tối đa không quá 70 triệu đồng/mô hình.
b) Chi thực hiện kiểm toán năng lượng các tòa nhà, doanh nghiệp, ngân sách Nhà nước hỗ trợ 50% chi phí kiểm toán nhưng tối đa không quá 100 triệu đồng cho một doanh nghiệp, theo mức cụ thể như sau:
- Tòa nhà, doanh nghiệp có mức tiêu thụ năng lượng đến 1 triệu kWh/năm hoặc tương đương đến 160 tấn dầu quy đổi (TOE)/năm: mức hỗ trợ không quá 30 triệu đồng/doanh nghiệp;
- Tòa nhà, doanh nghiệp có mức tiêu thụ năng lượng từ 1 đến dưới 2 triệu kWh/năm hoặc tương đương từ 160 đến dưới 320 TOE/năm: mức hỗ trợ không quá 50 triệu đồng/doanh nghiệp;
- Tòa nhà, doanh nghiệp có mức tiêu thụ năng lượng từ 2 đến dưới 3 triệu kWh/năm hoặc tương đương từ 320 đến dưới 500 TOE/năm: mức hỗ trợ không quá 75 triệu đồng/doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp có mức tiêu thụ năng lượng từ 3 đến 6 triệu kWh/năm hoặc tương đương từ 500 đến 1000 TOE/năm: mức hỗ trợ không quá 100 triệu đồng/doanh nghiệp.
c) Chi hỗ trợ kỹ thuật đối với các nhà sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu, bán lẻ sản phẩm hiệu suất năng lượng cao và các Tổ chức thử nghiệm hiệu suất năng lượng trong nước trong việc triển khai chương trình dán nhãn năng lượng thông qua tổ chức hội thảo chuyên đề, hoạt động triển lãm, xây dựng gian hàng trưng bày sản phẩm dán nhãn năng lượng; đánh giá, chứng nhận, đào tạo nâng cao năng lực: ngân sách Nhà nước hỗ trợ chi phí thực hiện, triển khai chương trình dán nhãn năng lượng tối đa không quá 100 triệu đồng/doanh nghiệp có từ 3 loại sản phẩm áp dụng dán nhãn trong một năm;
d) Đối với mô hình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả bằng bình đun nước nóng năng lượng mặt trời mô hình công nghiệp (có hệ thống điều khiển tự động và công suất tối thiểu là 5.000 lít/ngày), ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% chi phí vật tư, thiết bị nhưng không quá 100 triệu đồng/mô hình;
đ) Chi thực hiện kiểm toán năng lượng cho nhà máy nhiệt điện, ngân sách Nhà nước hỗ trợ 20% chi phí kiểm toán nhưng tối đa không quá 200 triệu đồng/nhà máy.