Điều 8. Bán, thanh lý tài sản nhà nước
1. Chủ tịch UBND tỉnh quyết định bán, thanh lý tài sản là nhà và các công trình xây dựng, vật kiến trúc gắn liền với đất thuộc trụ sở làm việc thuộc quyền quản lý của các đơn vị (trừ trường hợp nêu tại điểm a, khoản 2 và điểm a, khoản 3 Điều này).
2. Giám đốc Sở Tài chính quyết định bán, thanh lý:
a. Nhà và các công trình xây dựng, vật kiến trúc gắn liền với đất thuộc trụ sở làm việc thuộc quyền quản lý của các đơn vị cấp tỉnh nằm trong mặt bằng thi công các dự án đầu tư xây dựng đã được UBND tỉnh quyết định phê duyệt; nhà cấp IV, nhà tạm, vật kiến trúc gắn liền với đất thuộc trụ sở làm việc đã quá thời gian sử dụng theo quy định mà không thể tiếp tục sử dụng thuộc đơn vị cấp tỉnh quản lý.
b. Phương tiện đi lại của các đơn vị.
c. Tài sản khác có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 100 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản của các đơn vị tỉnh quản lý.
3. Chủ tịch UBND huyện, thành phố quyết định bán, thanh lý:
a. Nhà và các công trình xây dựng, vật kiến trúc gắn liền với đất thuộc trụ sở làm việc thuộc quyền quản lý của các đơn vị do huyện, thành phố quản lý, phải phá dỡ để thực hiện dự án đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng theo quy hoạch, dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; nhà cấp IV, nhà tạm, vật kiến trúc gắn liền với đất thuộc trụ sở làm việc đã quá thời gian sử dụng theo quy định mà không thể tiếp tục sử dụng thuộc đơn vị cấp huyện quản lý.
b. Các tài sản khác (trừ phương tiện đi lại) có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 100 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản của các đơn vị công lập thuộc huyện, thành phố quản lý.
4. Thủ trưởng đơn vị, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn quyết định việc thanh lý tài sản nhà nước đối với các tài sản có nguyên giá theo sổ sách kế toán dưới 100 triệu đồng/01 đơn vị tài sản thuộc phạm vi quản lý (trừ phương tiện đi lại). Trong quá trình thực hiện nếu có nội dung chưa phù hợp cần bổ sung, sửa đổi thì UBND tỉnh tổng hợp trình HĐND tỉnh xem xét, quyết định./.