Điều 10.- Kế hoạch hoá đầu tư.
1. Kế hoạch hoá đầu tư ở các cấp phải phản ánh được tất cả các nguồn vốn đầu tư:
- Kế hoạch đầu tư ở cấp vĩ mô phải tính toán cân đối vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm: vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước (vốn khấu hao cơ bản, vốn tích luỹ từ lợi tức sau thuế và huy động) vốn đầu tư của dân và của chủ doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
- Kế hoạch đầu tư ở cấp tỉnh, thành phố phải tính toán phản ánh và theo dõi toàn bộ hoạt động đầu tư của các thành phần kinh tế, trong đó có vốn đầu tư do địa phương trực tiếp quản lý; đồng thời hướng dẫn chính quyền cấp dưới tính toán cân đối các nguồn vốn đầu tư phát triển (từ huy động sức dân, từ các khoản thu ngân sách được để lại và yêu cầu trợ cấp từ cấp trên).
- Kế hoạch đầu tư của các doanh nghiệp phải cân đối phản ánh các nguồn vốn khấu hao cơ bản, tích luỹ từ lợi tức sau thuế, từ các nguồn huy động trong và ngoài nước, vay tín dụng Nhà nước và ngân sách hỗ trợ (nếu có).
- Cơ quan kế hoạch Nhà nước các cấp có trách nhiệm thực hiện kế hoạch hoá trực tiếp nguồn vốn Nhà nước.
2. Thực hiện kế hoạch đầu tư theo chương trình và dự án được duyệt đối với:
a. Các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước được duyệt tổng mức vốn đầu tư cho toàn bộ dự án.
b. Các chương trình quốc gia được Quốc hội quyết định danh mục và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mục tiêu, tiến độ, tổng mức vốn và nguồn vốn làm cơ sở để bố trí kế hoạch cho các Bộ và các địa phương. Những dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn Nhà nước trong chương trình Quốc gia phải thực hiện theo quy định của Điều lệ này.
3. Vốn quy hoạch ngành và lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn đều phải được ghi trong kế hoạch Nhà nước. Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Tài chính hướng dẫn cụ thể kế hoạch hoá nguồn vốn này.
4. Vốn sự nghiệp có tính chất xây dựng được sử dụng đầu tư cho các chương trình quốc gia. Bộ Tài chính thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí kế hoạch và thông báo về các Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện trên cơ sở các căn cứ: Có kế hoạch, có dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm, có dự toán chi tiết của đơn vị thụ hưởng ngân sách Nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
5. Nội dung, điều kiện ghi kế hoạch đầu tư và báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch được quy định như sau: a. Nội dung kế hoạch đầu tư bao gồm:
- Kế hoạch vốn cho công tác điều tra, khảo sát và lập quy hoạch ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
- Kế hoạch chuẩn bị đầu tư bao gồm vốn đầu tư để thực hiện việc điều tra khảo sát, lập dự án tiền khả thi, khả thi, thẩm định dự án và quyết định đầu tư.
- Kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án bao gồm vốn để thực hiện công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán, lập hồ sơ mời thầu, xây dựng khu phụ trợ, nhà ở tạm của công nhân xây dựng đối với các dự án có nhu cầu được cấp có thẩm quyền cho phép và các chi phí cho công tác chuẩn bị thực hiện các dự án khác có liên quan.
- Kế hoạch thực hiện dự án bao gồm vốn đầu tư để thực hiện việc mua sắm vật tư thiết bị, xây dựng và các chi phí có liên quan đến việc đưa dự án vào khai thác sử dụng.
b. Điều kiện ghi kế hoạch đầu tư hàng năm:
- Các dự án được ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư phải nằm trong quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ.
- Các dự án được ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án phải có quyết định đầu tư phù hợp với những quy định của Điều lệ này.
- Các dự án được ghi vào kế hoạch thực hiện dự án phải có tổng dự toán công trình được cấp có thẩm quyền xét duyệt.
Những dự án thuộc nhóm A, B, nếu chưa có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán được duyệt, nhưng trong quyết định đầu tư đã quy định mức vốn của từng hạng mục và đã có thiết kế kỹ thuật và dự toán của hạng mục khởi công được người có thẩm quyền phê duyệt thì được ghi kế hoạch đầu tư.
Đối với các dự án ký kết với nước ngoài, trong đó có nhiều dự án nhỏ thì từng dự án nhỏ thi công trong năm phải có thiết kế kỹ thuật và dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
c. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch:
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Tổng Công ty được thành lập theo Quyết định số 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch hàng quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm vào tuần đầu tháng cuối quý đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Tổng cục Thống kê về các mặt huy động các nguồn vốn, khối lượng xây dựng, cấp phát thanh toán, dự án hoàn thành, năng lực mới huy động theo biểu mẫu do Tổng cục Thống kê quy định. Riêng đối với các dự án nhóm A, chủ đầu tư phải báo cáo tình hình thực hiện vào ngày 25 hàng tháng để Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Chương 2:
CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ