Điều 13. Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan có liên quan
1. Đối với chủ đầu tư:
a) Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định. Tiếp nhận và sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm và có hiệu quả. Chấp hành đúng quy định của pháp luật về chế độ quản lý tài chính đầu tư phát triển.
b) Thực hiện việc nghiệm thu khối lượng, lập hồ sơ thanh toán và đề nghị thanh toán cho nhà thầu theo thời gian và nội dung quy định của hợp đồng. Kịp thời hoàn thành các hồ sơ, thủ tục theo quy định gửi đến cơ quan Kho bạc Nhà nước để kiểm soát, thanh toán.
c) Bố trí đủ vốn trong kế hoạch hàng năm để mua bảo hiểm công trình xây dựng theo quy định.
d) Tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của khối lượng thực hiện, định mức, đơn giá, dự toán các loại công việc, chất lượng công trình và giá trị đề nghị thanh toán; tự chịu trách nhiệm về số liệu tính toán của phần giá trị khối lượng thực hiện được thanh toán vốn trái phiếu Chính phủ (đối với trường hợp dự án có điều chỉnh hạng mục) và về tính chính xác của thông tin ghi trong Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư (đối với trường hợp dự án không có điều chỉnh hạng mục); đảm bảo tính chính xác, trung thực, hợp pháp của các số liệu, tài liệu trong hồ sơ cung cấp cho Kho bạc Nhà nước và các cơ quan chức năng của Nhà nước.
đ) Báo cáo kịp thời, đầy đủ theo quy định cho cơ quan quyết định đầu tư, cơ quan Kho bạc Nhà nước và các cơ quan nhà nước có liên quan; cung cấp đủ hồ sơ, tài liệu, tình hình theo quy định cho Kho bạc Nhà nước và cơ quan Tài chính để phục vụ cho công tác quản lý và thanh toán vốn; chịu sự kiểm tra của cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước và cơ quan quyết định đầu tư về tình hình sử dụng vốn đầu tư và chấp hành chính sách, chế độ tài chính đầu tư phát triển của Nhà nước.
e) Thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện vốn tạm ứng của các nhà thầu, phải kiểm tra trước, trong và sau khi thực hiện ứng vốn cho các nhà thầu.
g) Thực hiện kế toán đơn vị chủ đầu tư; quyết toán vốn đầu tư theo quy định hiện hành.
h) Được yêu cầu Kho bạc Nhà nước thanh toán vốn khi đã có đủ điều kiện và trả lời, giải thích những nội dung chưa thoả đáng trong việc thanh toán vốn.
2. Đối với các Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
a) Thực hiện giao chi tiết kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ hàng năm tới từng dự án theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 Thông tư này.
b) Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư thuộc phạm vi quản lý thực hiện kế hoạch đầu tư, tiếp nhận và sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, đúng chế độ Nhà nước.
c) Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định tại Điều 11 Thông tư này.
d) Trong phạm vi thẩm quyền được giao, chịu trách nhiệm trước Chính phủ và pháp luật nhà nước về những quyết định của mình.
đ) Thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Đề án số 47/2008/QĐ-TTg, Đề án số 930/QĐ-TTg và Đề án số 20/2008/QĐ-TTg.
3. Đối với cơ quan Tài chính các cấp:
a) Đảm bảo đủ nguồn vốn theo quy định của Bộ Tài chính để Kho bạc Nhà nước thanh toán cho các dự án.
b) Thực hiện quy định về báo cáo, quyết toán vốn đầu tư.
c) Phối hợp với các cơ quan chức năng hướng dẫn và kiểm tra các chủ đầu tư, Kho bạc Nhà nước, các nhà thầu thực hiện dự án về việc chấp hành chế độ, chính sách tài chính đầu tư phát triển, tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư, tình hình thanh toán vốn đầu tư; có giải pháp xử lý các trường hợp vi phạm, quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định việc thu hồi các khoản, nội dung chi sai chế độ, quy định của Nhà nước.
d) Được quyền yêu cầu Kho bạc Nhà nước, chủ đầu tư cung cấp các tài liệu, thông tin cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về tài chính đầu tư phát triển, bao gồm các tài liệu phục vụ cho thẩm định dự án đầu tư và bố trí kế hoạch vốn đầu tư hàng năm, các tài liệu báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch và thực hiện vốn đầu tư theo quy định về chế độ thông tin báo cáo, các tài liệu phục vụ thẩm tra quyết toán vốn đầu tư theo quy định.
4. Đối với Kho bạc Nhà nước:
a) Hướng dẫn chủ đầu tư mở tài khoản để được thanh toán vốn đầu tư.
b) Kiểm soát, thanh toán vốn kịp thời, đầy đủ cho dự án khi đã có đủ điều kiện và đúng thời gian quy định.
c) Có ý kiến rõ ràng bằng văn bản cho chủ đầu tư đối với những khoản giảm thanh toán hoặc từ chối thanh toán, trả lời các thắc mắc của chủ đầu tư trong việc thanh toán vốn.
d) Kho bạc Nhà nước chỉ kiểm soát thanh toán trên cơ sở các tài liệu do chủ đầu tư cung cấp và theo nguyên tắc thanh toán đã quy định; không chịu trách nhiệm về tính chính xác của khối lượng, định mức, đơn giá chất lượng công trình; không chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu tính toán của phần giá trị khối lượng thực hiện được thanh toán vốn trái phiếu Chính phủ (đối với trường hợp dự án có điều chỉnh hạng mục) và tính chính xác của thông tin ghi trong Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư (đối với trường hợp dự án không có điều chỉnh hạng mục). Trường hợp phát hiện quyết định của các cấp có thẩm quyền trái với quy định hiện hành, phải có văn bản đề nghị xem xét lại và nêu rõ ý kiến đề xuất. Nếu quá thời gian quy định mà không được trả lời thì được quyền giải quyết theo đề xuất của mình; nếu được trả lời mà xét thấy không thoả đáng thì vẫn giải quyết theo ý kiến của cấp có thẩm quyền, đồng thời phải báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền cao hơn và báo cáo cơ quan Tài chính để xem xét, xử lý.
đ) Thường xuyên đôn đốc các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án thực hiện đúng quy định về tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng, phối hợp với chủ đầu tư thực hiện kiểm tra vốn đã tạm ứng để thu hồi những khoản tồn đọng chưa sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích.
e) Đôn đốc chủ đầu tư thanh toán dứt điểm công nợ khi dự án đã quyết toán và tất toán tài khoản.
g) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo và quyết toán sử dụng vốn đầu tư theo quy định; xác nhận số vốn đã thanh toán theo yêu cầu quản lý.
h) Được quyền yêu cầu chủ đầu tư cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin có liên quan để phục vụ cho công tác kiểm soát thanh toán vốn.
i) Định kỳ và đột xuất kiểm tra các chủ đầu tư về tình hình thực hiện dự án, việc chấp hành chế độ, chính sách tài chính đầu tư phát triển, tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư; được phép tạm ngừng thanh toán vốn hoặc thu hồi số vốn mà chủ đầu tư sử dụng sai mục đích, sai đối tượng hoặc trái với chế độ quản lý tài chính của nhà nước, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính để xử lý.
k) Không tham gia vào các Hội đồng nghiệm thu ở các công trình, dự án.
Phần III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH