Điều 3. Chế độ trợ cấp
1. Chế độ trợ cấp hàng tháng
a) Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Thông tư này có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác được tính hưởng chế độ theo hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư này (bao gồm cả trường hợp đã xuất ngũ, thôi việc sau ngày 15 tháng 12 năm 1993 hiện đang công tác ở xã có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà khi thôi công tác ở xã không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo quy định hoặc khi thôi công tác ở xã thuộc diện được cộng nối thời gian công tác trong Công an với thời gian công tác ở xã nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí mà thời gian công tác trong Công an không được tính hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần) được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng tính theo số năm công tác được tính hưởng chế độ; mức hưởng cụ thể như sau:
- Từ đủ 15 năm đến dưới 16 năm, mức trợ cấp bằng 925.000 đồng/tháng.
- Từ đủ 16 năm đến dưới 17 năm, mức trợ cấp bằng 971.250 đồng/tháng.
- Từ đủ 17 năm đến dưới 18 năm, mức trợ cấp bằng 1.017.500 đồng/tháng.
- Từ đủ 18 năm đến dưới 19 năm, mức trợ cấp bằng 1.063.750 đồng/tháng.
- Từ đủ 19 năm đến dưới 20 năm, mức trợ cấp bằng 1.110.000 đồng/tháng.
Ví dụ 1:
Ông Nguyễn Văn A, vào Công an nhân dân tháng 5 năm 1975, năm 1978 tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Nam, tháng 9 năm 1992 xuất ngũ, thôi việc về địa phương.
Cách tính hưởng chế độ đối với ông Nguyễn Văn A như sau:
Thời gian công tác thực tế trong Công an nhân dân của ông Nguyễn Văn A từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 9 năm 1992 là 17 năm 5 tháng. Mức hưởng trợ cấp hàng tháng của ông Nguyễn Văn A là 1.017.500 đồng/tháng.
Ví dụ 2:
Ông Trần Văn B, vào Công an nhân dân tháng 10 năm 1975, tháng 01 năm 1979 được cử đi làm nhiệm vụ ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, tháng 10 năm 1991 chuyển ngành công tác tại Tòa án nhân dân huyện P, năm 1993 nghỉ theo chế độ thôi việc.
Cách tính hưởng chế độ đối với ông Trần Văn B như sau:
Thời gian công tác thực tế trong Công an của ông B từ tháng 10 năm 1975 đến tháng 10 năm 1991 là 16 năm 01 tháng (thời gian chuyển ngành sang công tác tại Tòa án nhân dân huyện P không được tính hưởng chế độ). Mức hưởng trợ cấp hàng tháng của ông B là 971.250 đồng/tháng.
Ví dụ 3:
Ông Đỗ Văn C, vào Công an nhân dân tháng 5 năm 1975 và tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Nam, do hoàn cảnh gia đình tháng 01 năm 1978 xuất ngũ; tháng 01 năm 1979 tham gia công tác ở xã biên giới phía bắc và trực tiếp tham gia chiến đấu từ tháng 02/1979 đến tháng 01/1981, tháng 02 năm 1982 được tuyển dụng lại vào Công an, tháng 01/1993 thôi việc.
Cách tính hưởng chế độ đối với ông Đỗ Văn C như sau:
Thời gian công tác thực tế trong Công an nhân dân là 13 năm 9 tháng (gồm: lần thứ nhất từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 01 năm 1978 là 2 năm 9 tháng; lần thứ hai từ tháng 02/1982 đến tháng 01/1993 là 11 năm 0 tháng); thời gian là cán bộ xã trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc được tính hưởng chế độ từ tháng 02/1979 đến tháng 01/1981 là 2 năm 0 tháng. Tổng số thời gian công tác được tính hưởng chế độ là 15 năm 9 tháng. Mức hưởng trợ cấp hàng tháng của ông C là 925.000 đồng/tháng.
Ví dụ 4:
Ông Lê Văn D, vào Công an tháng 5 năm 1975; tháng 8 năm 1976 làm nhiệm vụ truy quét Fulrô tại Tây Nguyên, tháng 6 năm 1992 xuất ngũ về địa phương.
Cách tính hưởng chế độ đối với ông Lê Văn D như sau:
Thời gian công tác thực tế trong Công an của ông D từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 6 năm 1992 là: 17 năm 01 tháng. Mức hưởng trợ cấp hàng tháng của ông D là 1.017.500 đồng/tháng.
b) Khi Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng thì mức trợ cấp nêu trên cũng được điều chỉnh tương ứng; thời điểm điều chỉnh thực hiện theo quy định của Chính phủ kể từ sau ngày 01/01/2012.
c)
Người được hưởng trợ cấp hàng tháng
từ trần
từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 trở về sau thì thôi hưởng từ tháng tiếp theo; người lo mai táng được hưởng trợ cấp một lần bằng 03 tháng trợ cấp hiện hưởng của người từ trần.
Ví dụ 5:
Ông Trần Đình K được hưởng trợ cấp hàng tháng từ tháng 01/2012 với mức 925.000 đồng/tháng, đến tháng 3/2012 ông Trần Đình K từ trần, gia đình ông K được hưởng trợ cấp đến hết tháng 3/2012 và người lo mai táng cho ông K được hưởng trợ cấp một lần là:
03 tháng x 925.000 đồng/tháng = 2.775.000 đồng.
2. Chế độ trợ cấp một lần
a) Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Thông tư này có dưới 15 năm công tác được tính hưởng chế độ theo hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư này (bao gồm cả trường hợp đã xuất ngũ, thôi việc hiện đang công tác ở xã có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân sau đó tham gia công tác ở xã đã nghỉ việc và hiện đang hưởng chế độ hưu trí, nhưng khi thôi công tác ở xã thời gian công tác trong Công an nhân dân không được cộng nối với thời gian công tác ở xã để tính hưởng chế độ bảo hiểm xã hội) được hưởng chế độ trợ cấp một lần tính theo số năm công tác được tính hưởng chế độ; mức hưởng cụ thể như sau:
- Từ đủ 2 năm trở xuống, mức trợ cấp một lần bằng 2.500.000 đồng.
- Từ năm thứ 03 trở đi, cứ mỗi năm công tác được cộng thêm 800.000 đồng.
b)
Công nhân viên chức Công an thuộc đối tượng quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 1 Thông tư này được hưởng chế độ trợ cấp một lần tính theo số năm trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, cụ thể như sau:
- Từ đủ 2 năm trở xuống, mức trợ cấp bằng 2.500.000 đồng.
- Từ năm thứ 03 trở đi, cứ mỗi năm công tác được cộng thêm 800.000 đồng.
c) Mức trợ cấp một lần hướng dẫn tại điểm a, b khoản này được tính theo công thức sau:
Mức trợ cấp hưởng = 2.500.000 đồng + [(số năm được tính hưởng - 2 năm) x 800.000 đồng]
Ví dụ 6:
Ông Phạm Văn H, vào Công an nhân dân tháng 4 năm 1977, tháng 3 năm 1979 tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc, tháng 10/1981 thôi việc (xuất ngũ) về địa phương. Thời gian công tác thực tế trong Công an là 4 năm 7 tháng, được tính tròn là 5 năm.
Số tiền trợ cấp một lần của ông Phạm Văn H được hưởng là:
2. 500.000 đồng + [(5 năm - 2 năm) x 800.000 đồng] = 4.900.000 đồng.
Ví dụ 7:
Bà Nguyễn Thị Q, tuyển vào làm công nhân Công an tháng 2/1977, từ tháng 5/1979 đến tháng 10/1982 bà Q trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu ở huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, tháng 11/1982 chuyển về công tác tại Cục X, Bộ Công an, tháng 01/1989 thôi việc về địa phương.
Cách tính hưởng trợ cấp một lần đối với bà Q như sau:
Thời gian trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ tháng 5/1979 đến tháng 10/1982 là 3 năm 6 tháng, được tính là 4 năm. Chế độ được hưởng là:
2. 500.000 đồng + [(4 năm - 2 năm) x 800.000 đồng)] = 4.100.000 đồng.
d) Đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp 1 lần theo hướng dẫn tại điểm a, b khoản này nhưng từ trần từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 trở về sau thì vẫn được hưởng chế độ trợ cấp 1 lần theo hướng dẫn tại khoản này và người lo mai táng được hưởng chế độ mai táng phí theo quy định tại Điều 4 Thông tư này.
3. Trường hợp thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư này nhưng đã từ trần trước ngày 01 tháng 01 năm 2012 (bao gồm cả số từ trần khi đang công tác) thì một trong những thân nhân sau đây của đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp một lần bằng 3.600.000 đồng: vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp; bố đẻ, mẹ đẻ, hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp.