BỘ TÀI CHÍNH
---------------------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------------------------------
Số: 45 TC/CTN
Hà nội ngày 20 tháng 10 năm 1989
THÔNG TƯ
Hướng dẫn nghiệp vụ thu thuế doanh nghiệp và thuế lợi tức doanh nghiệp
______________________________
Để đưa công tác quản lý thu thuế doanh nghiệp và thuế lợi tức doanh nghiệp vào nề nếp, đảm bảo thi hành đúng chính sách và nghiêm chỉnh chấp hành Pháp luật của Nhà nước và căn cứ vào các điều 6,7,8,30 và 42 của điều lệ thuế công thương nghiệp, điều 20 Nghị định số 53-HĐBT ngày 27 tháng 5 năm 1989 của HĐBT ; Bộ Tài chính hướng dẫn nghiệp vụ thu thuế doanh nghiệp và thuế lợi tức doanh nghiệp như sau:
1. Các đối tượng phải nộp thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức doanh nghiệp ghi tại điều 2, điều 11 của Điều lệ thuế công thương nghiệp bao gồm ; các tổ chức kinh tế tập thể xí nghiệp liên doanh, họ tiểu công nghiệp, hộ cá thể và tư doanh hoạt động trong các ngành sản xuất, vận tải xây dựng, phục vụ, lưu thông hàng hóa (dưới đây gọi chung là người nộp thuế) đều phải chấp hành đúng những quy định của Nhà nước về khai báo và nộp thuế theo hướng dẫn dưới đây:
a. Về khai báo kinh doanh
- Theo quy định tại điều 7 của Điều lệ thuế công thương nghiệp người nộp thuế có trách nhiệm khai báo bằng văn bản với cơ quan thuế huyện, quận, ít nhất là 10 ngày trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh, tạm ngừng hay là nghỉ hẳn sản xuất kinh doanh, hoặc có sự thay đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh (như thay đổi mặt hàng, quy mô phương thức kinh doanh ; di chuyển địa điểm kinh doanh ; thay đổi tổ chức và nhân sự như sát nhập, phân tán cơ sở sản xuất kinh doanh...).
Nội dung khai báo khi bắt đầu sản xuất kinh doanh có những điểm chủ yếu như: tên hiệu cơ sở ; hình thức tổ chức (hợp tác xã, tổ sản xuất, xí nghiệp tư nhân, xí nghiệp liên doanh, hộ cá thể...) ; tên chủ hộ hoặc đại diện cơ sở địa chỉ của cơ sở (nếu có nhiều địa điểm sản xuất kinh doanh cũng phải khai báo rõ: địa điểm chính, địa điểm phụ, nơi đặt cửa hàng, kho hàng)... ngành nghề, mặt hàng kinh doanh, phương thức kinh doanh (làm gia công hay tự sản tự tiêu, chuyên bán buôn hay bán lẻ) đã được cấp giấy phép kinh doanh hay chưa ?
Đối với trường hợp tạm ngừng nghỉ hẳn sản xuất kinh doanh hay là có sự thay đổi trong sản xuất kinh doanh đều phải khai báo cụ thể với cơ quan thuế lý do và nội dung cụ thể.
- Trường hợp ngừng sản xuất kinh doanh đột xuất (về mọi lý do) phải kịp thời báo cho cơ quan thuế biết và chịu trách nhiệm về nội dung đã khai báo.
- Người nộp thuế phải sao gửi đến cơ quan thuế các bản hợp đồng kinh tế đã ký kết (nếu có). Khi thay đổi nội dung trong từng hợp đồng kinh tế hoặc hủy bỏ, thanh lý hợp đồng kinh tế, đều phải thông báo kịp thời cho cơ quan thuế biết rõ lý do và những nội dung thay đổi.
b. Thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ
- Theo quy định tại điều 8, điều 30 của Điều lệ thuế công thương nghiệp, người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ những quy định về chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ của Nhà nước đã ban hành, cụ thể là:
+ Các tổ chức kinh tế tập thể, thực hiện chế độ kế toán, chứn từ theo quyết định của Bộ Tài chính số 393 -QĐCĐLKT ngày 30 tháng 9 năm 1968 và quyết định của Liên Bộ Tài chính - Tổng cục thống kê số 197-CĐKT ngày 14 tháng 4 năm 1975 (đã được các ngành cụ thể hó cho phù hợp với đặc điểm từng ngành sản xuất kinh doanh như: Liên hiệp xã T.TCN liên xã ngành vận tải, ngành xây dựng, Ban quản lý hợp tác xã mua bán Việt Nam...)
+ Các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, hộ tiểu công nghiệp và tư doanh thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quyết định số 229-TC/CĐKT ngày 29 tháng 2 năm 1988 của Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về từng loại sổ sách kế toán áp dụng cho hộ cá thể, hộ sản xuất tiểu công nghiệp, hộ tiểu thương xí nghiệp tư doanh.
- Các sổ sách kế toán, hóa đơn thu tiền đều phải đăng ký với cơ quan thuế trước khi sử dụng:
Sổ sách kế toán phải đóng dấu giáp lai của Phòng thuế quận, huyện.
Phải sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế phát hành. Nếu sử dụng hóa đơn tự in hoặc mua hóa đơn của nơi khác thì phải đến đăng ký với cơ quan thuế trước khi sử dụng.
-Việc giữ gìn, bảo quản, ghi chép sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ phải tuân theo những quy định trong các chế độ kế toán. Phải ghi chép đầy đủ, kịp thời, rõ ràng và hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, số liệu đã ghi chép trong sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ.
c.Khai báo nộp thuế:
- Theo quy định tại điều 12 của Điều lệ thuế công thương nghiệp và điều 20 Nghị định số 53HĐBT ngày 27 tháng 5 năm 1989 của HĐBT thì thuế doanh nghiệp và thuế lợi tức doanh nghiệp có hai phương pháp thu thuế:
+ Thu theo kê khai
+ Thu theo phương pháp khoán
+ Những cơ sở đã chấp hành tốt chế độ kế toán mở đầy đủ sổ sách theo quy định, ghi chép rõ ràng, trung thực, bán hàng, thu tiền có xuất hóa đơn, chấp nhận nộp thuế theo kê khai thì thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức doanh nghiệp tính theo tờ khai của cơ sở sản xuất kinh doanh, sau khi cơ quan thuế đã kiểm tra phát hiện việc kê khai không đúng thực tế để trốn thuế thì cơ quan thuế có quyền ấn định doanh thu tính thuế theo kết quả kiểm tra ; đồng thời áp dụng biện pháp xử phạt theo điều 44 của Điều lệ thuế công thương nghiệp.
Tùy theo đặc điểm sản xuất kinh doanh, có cơ sở nộp thuế theo tờ khai kết quả sản xuất kinh doanh từng tháng ; có cơ sở kê khai tạm nộp thuế hàng tháng và thanh toán thuế theo từng kỳ quyết toán lỗ lãi sản xuất kinh doanh (3 tháng, 6 tháng, cả năm).
Cơ sở nộp thuế theo phương pháp kê khai, trong vòng 5 ngày đầu tháng phải nộp cho cơ quan thuế tờ khai về kết quả sản xuất kinh doanh của tháng trước (theo mẫu của cơ quan thuế). Ngoài ra, tùy theo từng cơ sở sản xuất kinh doanh và từng kỳ thuế,cơ quan thuế có thể yêu cầu phải nộp các báo cáo kế toán có liên quan đến việc kiểm tra tính thuế như: bản kê các loại doanh thu, bản cân đối tài khoản, bảng tổng kết tài sản, bản quyết toán lỗ, lãi sản xuất kinh doanh...Phải nộp thuế theo đúng thông báo của cơ quan thuế (về số thuế phải nộp thời hạn nộp và địa điểm nộp thuế). Nếu có điểm nào chưa đồng ý thì cơ sở nộp thuế có quyền đề nghị lên cơ quan thuế các cấp xem xét, nhưng trong khi chờ giải quyết, cơ sở vẫn phải nộp thuế theo đúng thông báo của cơ quan thuế.
+ Những cơ sở khác thì nộp theo phương pháp khoán, những cũng phải làm tờ khai kết quả sản xuất kinh doanh theo mẫu đơn giản (do cơ quan thuế hướng dẫn) gửi đến cơ quan thuế để có căn cứ xác định mức thuế khoán. Cơ quan thuế kiểm tra tờ khai, nếu thấy đúng sự thực thì tính thuế theo tờ khai ; nếu phát hiện kê khai không đúng để man lậu thuế thì cơ quan thuế có quyền ấn định doanh thu tính thuế theo kết quả kiểm tra, đồng thời áp dụng biện pháp xử phạt theo điều 44 của Điều lệ thuế CTN. Sau khi xác định đúng số thuế phải nộp trong tháng, cơ quan thuế có thể ổn định mức thuế đó trong thời hạn 3 tháng, 6 tháng. Khi tình hình sản xuất kinh doanh có sự thay đổi từ 20% trở lên thì phải xác định lại mức thuế cho sát với thực tế. Người nộp thuế theo phương pháp khoán phải nộp thuế theo đúng thông báo của cơ quan thuế (về số thuế thời hạn nộp và địa điểm nộp thuế). Nếu trong tháng người nộp thuế tạm ngừng sản xuất kinh doanh từ 5 ngày trở xuống (vì mọi lý do) thì vẫn phải nộp đủ mức thuế cả tháng. Nếu thời gian nghỉ kinh doanh kéo dài, có lý do chính đáng thì có thể được cơ quan thuế xem xét lại mức thuế trong tháng đó cho sát với thực tế kết quả sản xuất kinh doanh.
- Người nội thuế có trách nhiệm khai báo đúng sự thật, cung cấp những tài liệu cần thiết tạo mọi điều kiện dễ dàng cho cán bộ thuế kiểm tra sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ, kho tàng, kiểm tra hàng hóa, vật tư, nguyên liệu... theo định kỳ và đột xuất ; không được từ chối hoặc trì hoãn việc kiểm tra của cơ quan thuế.
d. Khen thưởng, xử phạt: