Điều 7.- Hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản
1. Người bán đấu giá chỉ được tiến hành bán đấu giá tài sản sau khi ký kết hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản với người bán tài sản. Hợp đồng uỷ quyền phải được lập thành văn bản, và có nội dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người bán tài sản; b) Tên, địa chỉ của người bán đấu giá;
c) Thời hạn, địa điểm bán đấu giá;
d) Liệt kê, mô tả chi tiết tài sản đem bán đấu giá;
đ) Giá khởi điểm của tài sản;
e) Thời hạn, phương thức giao tài sản;
g) Lệ phí;
h) Thời hạn, địa điểm, phương thức thanh toán;
i) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
k) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
l) Các thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp bán đấu giá tài sản để thi hành án, hoặc để thi hành các quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, thì hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản được ký kết giữa các cơ quan này và người bán đấu giá.
3. Trong trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp bằng biện pháp bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ dân sự, thì hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản được ký kết giữa người bán đấu giá, người nhận cầm cố, người nhận thế chấp và người cầm cố, thế chấp. Nếu trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thoả thuận về việc bán đấu giá mà người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc từ chối ký kết hợp đồng bán đấu giá, thì hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá được ký kết giữa người nhận cầm cố, người nhận thế chấp với người bán đấu giá.
4. Trong trường hợp bán đấu giá quyền sử dụng đất, thì hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản được ký kết khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép bán đấu giá.